Kiên Giang trong liên kết Tiểu vùng Tứ giác Long Xuyên A A

24/05/2017
Vùng Tứ giác Long Xuyên (TGLX) phần thuộc Kiên Giang là vùng kinh tế của tỉnh, được giới hạn từ Kinh Cái Sắn (phía Đông Nam) đến biên giới với Campuchia (phía tây Bắc) và từ giáp ranh tỉnh An Giang (phía Đông Đông Bắc) đến Vịnh Thái Lan (phía Tây Tây Nam), bao gồm các huyện Hà Tiên, Kiên Lương, Hòn Đất, TX. Rạch Giá, một phần của 2 huyện Tân Hiệp, Châu Thành. Diện tích tự nhiên Vùng TGLX thuộc Kiên Giang là 239.120 ha, chiếm 38,14% diện tích tự nhiên (DTTN) của tỉnh. Cùng dải đất thấp dọc ven biển và nhiều tài nguyên khoáng sản,…

                             Hội thảo liên kết Tiểu vùng TGLX tại An Giang

 

Vùng TGLX đã trở thành vùng kinh tế trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, trong đó Nông-Lâm-Thủy sản được xác định là thế mạnh và khâu đột phá quyết định quá trình đổi mới, phát triển nông nghiệp, nông thôn. Đến năm 1990, trong đó bao gồm cả giai đoạn khai thác Vùng TGLX lần 1 (1985-1990) thì vùng này còn hoang hóa trên 125.000 ha, mật độ dân cư thấp 75 người/km2, sản xuất kém phát triển, chủ yếu là 1 vụ lúa mùa, năng suất thấp. Từ năm 1990 trở đi, Chính phủ và tỉnh KG tập trung đầu tư khai thác Vùng TGLX lần 2 (1990-1995) vì vậy những tiềm năng của vùng đã được khởi động và phát huy hiệu quả, nhất là sản xuất lương thực, góp phần quyết định thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn tỉnh. Năm 1996, Chính phủ đứng đầu là Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã quyết định đầu tư hệ thống thoát lũ ra biển Tây qua TGLX, sau 5 năm thực hiện, nhiều kinh trục, cống ngăn mặn và hệ thống đê biển hoàn thành đưa vào sử dụng đã tạo nguồn cung cấp nước ngọt, ngăn mặn, phục vụ cải tạo đất đai, khai hoang sản xuất và điều động bố trí lại dân cư, làm thay đổi cơ bản yếu tố tự nhiên, môi trường, kinh tế, xã hội trong vùng. Vùng TGLX chia thành 5 vùng sinh thái nông nghiệp: (1) vùng sinh thái mặn: ranh giới từ đê RG – Ba Hòn trở ra biển; (2) vùng sinh thái mặn-ngọt: ranh giới từ kinh RG-HT ra đến biển, một phần từ kinh Hà Giang đến biên giới CPC; (3) vùng sinh thái phèn ngập lũ sâu: ranh giới từ phía Bắc kinh RG-HT, từ kinh Tri Tôn đến kinh Hà Giang và biên giới; (4) vùng sinh thái ngọt ngập lũ trung bình: ranh giới từ phía Bắc kinh RG-HT, từ kinh Tri Tôn đến Cái Sắn tiếp giáp với tỉnh AG; (5) vùng sinh thái đồi núi: gồm đồi núi các huyện KL, HĐ, HT trong đất liền (Nguồn: Sở NN&PTNT KG, 2001).

Theo UBND tỉnh Kiên Giang (2005) Vùng này có trên 56,8 km đường biên giới đất liền với Campuchia, và có 139 km bờ biển, gồm Hà Tiên 21 km, Kiên Lương 50 km, Hòn Đất 48 km và Rạch Giá 20 km. Do vậy, vùng này gắn liền với giữ vững an ninh, trật tự, bảo vệ chủ quyền quốc gia, đồng thời là cơ sở phát triển kinh tế biển cho tỉnh nhà.

Vùng TGLX có nhiều tiềm năng và điều kiện để phát triển du lịch, gồm các địa danh thắng cảnh và địa danh di tích lịch sử nổi tiếng như Hòn Chông, Hòn Trẹm, Hòn Phụ Tử, núi Moso (huyện KL); Bãi biển Mũi Nai, Thạch Động Lăng Mạc Cữu, Đầm Đông Hồ, Núi Đá Dựng (TX. Hà Tiên); Hang Hòn Đất; Đình Nguyễn Trung Trực, Chùa Tam Bảo, Cổng Tam Quan (Tp. RG); Óc Eo (huyện Tân Hiệp);... là thắng cảnh, di tích lịch sử, khảo cổ,… không thể bỏ qua (Nguồn: Sở VH, TT&DL KG, 2012).

Nhận thức tầm quan trọng của Vùng TGLX nói riêng, Đồng bằng sông Cửu Long nói chung trên các mặt kinh tế - xã hội - môi trường và cả an ninh - quốc phòng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 593/QĐ-TTg, ngày 06/4/2016 về “Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2016-2020”. Đến nay đã hơn 01 năm, chúng ta - Kiên Giang - đã có những động thái gì để tham gia vào liên kết Tiểu vùng TGLX này.

Những đề xuất tham gia vào các liên kết trong Tiểu vùng TGLX

(1) Liên kết chuỗi giá trị sản xuất lúa – gạo.

Mặc dầu nhiều nhà khoa học có khuyến nghị “Đầu tư cho cây lúa là đầu tư không thông minh” do để đáp ứng sản xuất trong viễn cảnh biến đối khí hậu (BĐKH) không đủ nước ngọt, nếu trữ ngọt, dẫn nước ngọt thì rất tốn kém làm giá thành lúa cao, khó cạnh tranh, bên cạnh đó còn gây lãng phí nguồn tài nguyên. Ngoài ra, sản xuất trong thời kỳ BĐKH, nhiều loài sâu bệnh tấn công, trong đó rầy nâu (hút nhựa lúa làm suy dinh dưỡng và lây truyền bệnh virus mà hiện nay chưa có thuốc trị), bệnh đạo ôn trên lá và bông,… là những dịch hại thường trực gây thất thu nặng cho lúa; nhiều loài sâu bệnh thứ cấp bộc phát trở thành nguy hại, muỗi hành là một ví dụ - tấn công gây hại trên 30.000 ha lúa vụ Đông Xuân 2016-2017 tỉnh Kiên Giang. Tuy nhiên xét về tự nhiên, xã hội của vùng TGLX thì vẫn còn lợi thế cho sản xuất nông nghiệp, nhưng để phù hợp yêu cầu sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất, cần thiết phải chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp (bao gồm giống lúa – giảm bớt lúa phẩm cấp thấp, tập trung lúa chất lượng cao, lúa đặc sản giá trị cao; giảm vụ trồng “ít vụ mà ăn chắc”, gieo sạ đồng loạt; ứng dụng các quy trình hiện đại trong kỹ thuật canh tác và chăm sóc,…); áp dụng cơ giới hóa tiên tiến từ lúc sạ đến thu hoạch và cả chế biến xay xát, đóng gói xuất khẩu); đa dạng hóa sản phẩm từ gạo, kẹo gạo lức là một ví dụ; xây dựng và phát triển các hợp tác xã kiểu mới trong đó phải thực hiện cho được bơm tát bằng điện 3 pha, sạ giống cùng nhau và đồng loạt;… Ngoài những điểm đã đề cập trên, có thể Kiên Giang tự thân vận động, nhưng còn những điểm sau đây cần có sự cải thiện liên kết như liên kết quản lý nước giữa 02 tỉnh An Giang và Kiên Giang hay xây dựng liên kết mới như (i) Xây dựng và phát triển thương hiệu cho gạo TGLX - tại sao đến giờ này ĐBSCL vựa lúa gạo của Việt Nam ngay cả Việt Nam cũng chưa có thương hiệu gạo cho mình - trách nhiệm này thuộc về ai - để cho người nông dân tự bơi hơn 40 năm nay từ sau ngày giải phóng đất nước với điệp khúc “Được mùa, mất giá”. 

                   Mô hình nuôi tôm chân trắng lót bạt 2 giai đoạn Kiên Lương (11/2016)

 

Liên kết này nên phân công cho Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ đề xuất tuyển chọn dự án thực hiện. (ii) Nghiên cứu và sản xuất giống lúa cho vùng TGLX nên để cho 02 đơn vị TT. Giống Nông - Lâm - Ngư nghiệp tỉnh Kiên Giang và TT. Nghiên cứu giống lúa của Tập đoàn Lộc Trời An Giang liên kết sản xuất. (iii) Liên kết xây dựng và triển khai các quy trình kỹ thuật canh tác hiện đại nên tổ chức thực hiện lấy Trường Đại học Cần Thơ làm trung tâm với các vệ tinh là 04 Trung tâm Khuyến nông cấp tỉnh (Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang và Cần Thơ). (iv) Liên kết thu mua lúa và xuất khẩu gạo là giữa 04 Sở Công Thương cùng sự hỗ trợ của 04 Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch cấp tỉnh.

(2) Liên kết chuỗi giá trị sản xuất tôm.

Với thiên nhiên ưu đãi, Kiên Giang phần nằm trong Tiểu vùng TGLG có trên 139 km bờ biển, do vậy vùng này có cơ hội đóng góp phát triển kinh tế biển cho tỉnh nhà Kiên Giang. Để đạt được 80.000 tấn tôm/năm theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Kiên Giang lần thứ X thì liên kết đầu tiên cần làm là: (i) Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng điện 3 pha với thủy lợi – thủy nông nội đồng, vì nuôi tôm là “nuôi nước”. Liên kết nội tỉnh này phải được thực hiện giữa 02 Sở Nông nghiệp & PTNT và Sở Công Thương tỉnh Kiên Giang. Nếu không có hệ thống thủy lợi – thủy nông này “ao trên thải nước bệnh ra, ao dưới bơm nước bệnh vào” thì việc nuôi “tôm sú” có đường đi “tu sớm”. (ii) Quan trắc môi trường vùng nuôi tôm bằng thiết bị tự động. Liên kết nội tỉnh này được thực hiện giữa 02 Sở Khoa học & Công nghệ và Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Kiên Giang. Thông qua dữ liệu đo đạt môi trường, hệ thống sẽ cảnh báo cho người nuôi tôm biết các giải pháp phòng ngừa trong thời gian tới. Hiện nay, một số CTy nuôi tôm ở vùng TGLX như Trung Sơn, CP, BIM,… đã có áp dụng đơn lẻ các thiết bị môi trường, vì vậy khi liên kết xây dựng hệ thống cảnh báo môi trường cần tích hợp dữ liệu của các CTy này. (iii) Liên kết với Trường Đại học Cần Thơ sản xuất con giống tốt và giám định bệnh trên giống tôm trước khi thả. Liên kết này thực hiện tốt thì giảm nguy cơ thất bại trên 40%. Bên cạnh đó, Trường liên kết với TT. Khuyến nông, TT. Giống Nông - Lâm - Ngư  nghiệp tỉnh Kiên Giang xây dựng và phổ biến các quy trình kỹ thuật nuôi an toàn sinh học hay lót bạt 2 giai đoạn tiết kiệm nước đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, ASC,… (iv) Bên cạnh đó, các CTy, Tập đoàn,… cần liên kết xây dựng Vùng Nông nghiệp ứng dụng Công nghệ cao để được hưởng các ưu đãi hay cơ chế đặc thù.

(3) Liên kết phát triển du lịch bền vững.

Trong ĐBSCL, chỉ có 02 tỉnh có núi là Kiên Giang và An Giang; trong Tiểu vùng TGLX, chỉ có tỉnh Kiên Giang là có biển; đó là những tiềm năng và điều kiện để liên kết phát triển du lịch vật thể: Hòn Chông, Hòn Trẹm, Hòn Phụ Tử, Núi Moso, Bãi biển Mũi Nai, Thạch Động, Đầm Đông Hồ, Núi Đá Dựng, Hang Hòn Đất,… (Phía tỉnh Kiên Giang). Núi Bà, 7 Núi, Rừng Trà Sư,… (Phía An Giang). Bên cạnh đó, liên kết phát triển du lịch phi vật thể như văn hóa sông nước, lịch sử anh hùng Nguyễn Trung Trực, lịch sử kênh Vĩnh Tế gắn liền tên tuổi Thoại Ngọc Hầu, kênh T5 gắn liền Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (cần sớm kênh này mang tên Ông – Kênh Võ Văn Kiệt), lịch sử Hang Hòn gắn liền Chị Sứ - Phan Thị Ràng - Nữ Anh hùng lực lượng vũ trang, Khai quốc công thần Mạc Cữu – Tổng trấn Hà Tiên,… Ngoài ra, vùng này còn có đa dạng sinh học của vùng núi đá vôi Hòn Chông - Hà Tiên với những loài đặc trưng Voọc bạc Đông Dương, Lan bầu rượu, Thu hải đường, đặc biệt là nhiều loài ốc núi mà chưa có tên trong khoa học; Đầm Đông Hồ; Đồng cỏ bàng Phú Mỹ bãi di cư của hàng trăm của Sếu đầu đỏ - loài đặc biệt qu‎ý hiếm trong Sách đỏ thế giới. Các bước triển khai trong liên kết phát triển du lịch bền vững được đề xuất trong thời gian tới là: (i) Rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển du lịch của từng tỉnh, trong đó đặc biệt chú trọng các điểm nhấn (cả tự nhiên và nhân tạo), độc đáo riêng từng tỉnh tránh trùng lấp, được thực hiện bởi các Sở Du lịch hay Sở VH,TT&DL. (ii) Xây dựng kết nối các tour, các tuyến và quy chế khai thác hợp lý hài hòa giữa các bên cùng có lợi. (iii) Liên kết sản xuất các sản phẩm du lịch dựa trên nguyên liệu, tài nguyên sẵn có của từng địa phương và ‎ý kiến khảo sát của doanh nghiệp, đặc biệt là các du khách. (iii) Liên kết tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá du lịch với nhiều hình thức đa dạng, phong phú dễ tiếp cận đến với du khách trong nước và quốc tế, trong đó có chú trọng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch. (iv) Thành lập Ban Chỉ đạo đề án liên kết phát triển du lịch bền vững Tiểu vùng ĐBSCL. Trưởng ban luân phiên 2,5 năm/lần.

              Đàn Sếu đàn đỏ di cư về Khu Bảo tồn đồng cỏ bàng Phú Mỹ (Giang Thành)

 

Vậy trước mắt, tỉnh Kiên Giang cần có hội nghị - hội thảo - tọa đàm (3 trong 1) ít nhất trong 02 ngày để bàn cho“ra thóc, ra khoai”, bàn cho “tới nơi, tới chốn” để liên kết 4 nhà: Nhà nước – Nhà khoa học – Nhà doanh nghiệp – Nhà nông trong liên kết 4 tỉnh của Tiểu vùng TGLX góp phần phát triển bền vững kinh tế - xã hội - môi trường tỉnh Kiên Giang nói riêng, Tiểu vùng TGLX nói chung./.

Tài liệu tham khảo chính

Sở KH&CN Kiên Giang (2016). Tuyển tập các báo cáo kết quả đề tài, dự án nghiên cứu KH&CN tỉnh Kiên Giang từ 1994-nay. 2016.

Sở NN&PTNT Kiên Giang (2001). Điều chỉnh quy hoạch sản xuất nông - lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản vùng TGLX – Kiên Giang thời kỳ 2001-2010. 29 trang.

Sở VH,TT&DL Kiên Giang (2012). Đề cương đề án “Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch đến năm 2020, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Kiên Giang trong bối cảnh hội nhập” 11 trang.

UBND tỉnh KG (2005). Biên niên sử biên giới Kiên Giang. NXB Sự thật. 512 trang.

 

 TS. Nguyễn Xuân Niệm

Phó GĐ. Sở KH&CN Kiên Giang 

Admin
Thư viện ảnh
Hoạt động thể thao
Video
Web liên kết
Quảng cáo