Thực trạng quản lý, khả năng áp dụng bộ tiêu chí và quy trình giám sát, đánh giá hiệu quả quản lý ở Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang A A

23/10/2017

I. TỔNG QUAN VỀ KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN THẾ GIỚI KG

1.1. Khái quát về Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới Kiên Giang

Kiên Giang - một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở tận cùng phía Tây Nam nước Việt Nam, có diện tích tự nhiên 6.348,5 km2, với hơn 200 km bờ biển và trên 56 km đường biên giới đất liền với Campuchia. Như là một Việt Nam thu nhỏ, được thiên nhiên ưu đãi, phú cho Kiên Giang có đủ cả: hệ thống sông ngòi, núi rừng, đồng bằng và biển cả với hàng trăm hòn đảo nổi lớn nhỏ. Khu Dự trữ sinh quyển (DTSQ) Thế giới Kiên Giang đã được UNESCO công nhận ngày 27/10/2006 tại kỳ họp thứ 19 của Hội đồng Điều phối quốc tế Chương trình Con người và Sinh quyển, với tổng diện tích là 1.188.106 ha, trong đó có 329.304 ha trên cạn và 858.802 ha trên biển, bao gồm biển, đất liền và hải đảo thuộc 10 huyện, thị: U Minh Thượng, An Minh, An Biên, Vĩnh Thuận, Hòn Đất, Kiên Lương, Giang Thành, Hà Tiên, Phú Quốc và Kiên Hải. Khu sinh quyển có không gian vô cùng rộng lớn kết nối 3 vùng lõi là (i) Vườn Quốc gia (VQG) U Minh Thượng; (ii) VQG Phú Quốc, Khu bảo tồn biển Phú Quốc; (iii) Khu rừng bảo vệ cảnh quan Kiên Lương và đai rừng ngập mặn ven biển Tây. 

                                  Bản đồ Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang

 

Hầu hết các hệ sinh thái (HST) nhiệt đới đều có mặt ở đây như HST biển và ven bờ, rừng ngập mặn, hải đảo, rạn san hô, đầm lầy, rừng tràm ngập nước theo mùa và những cánh rừng nhiệt đới nguyên sinh và thứ sinh trên đảo Phú Quốc, rừng trên núi đá vôi Hòn Chông còn lại duy nhất ở miền Nam.

1.2. Hệ sinh thái và đa dạng sinh học

Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang chứa đựng hầu hết các HST đặc trưng của Việt Nam trên cạn và dưới biển, với 7 HST và 22 dạng sinh cảnh khác nhau: HST rừng lá rộng thường xanh; HST rừng trên núi đá vôi; HST rừng tràm ngập nước theo mùa; HST rừng ngập mặn; HST đồng cỏ; HST rạn san hô; HST cỏ biển. Trong đó mỗi loại sinh thái đều đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn HST cho cả toàn vùng, có thể cả Việt Nam như HST rừng tràm U Minh Thượng mang đầy đủ đặc điểm của rừng tràm nguyên sinh duy nhất ở Việt Nam; HST đồng cỏ Phú Mỹ là một dạng đất ngập nước nguyên thủy còn sót lại và có diện tích lớn nhất vùng ĐBSCL; HST thảm cỏ biển Phú Quốc là một trong hai khu vực của Việt Nam (Côn đảo và Phú Quốc) có sự phân bố của HST thảm cỏ biển và đây cũng là hai khu vực ở Việt Nam còn thấy sự xuất hiện loài Bò biển (Dugong dugon), loài thú quý hiếm nằm trong sách đỏ của thế giới; HST núi đá vôi Kiên Lương là HST núi đá vôi còn sót lại duy nhất ở Miền Nam Việt Nam.

Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang có vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), bảo vệ môi trường, văn hóa lịch sử và tín ngưỡng. Đặc biệt có tầm quan trọng bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) của Việt Nam và Thế giới, bởi đây là “ngôi nhà” của hơn 2.407 loài, bao gồm 1.494 loài thực vật và 913 loài động vật, với 213 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ của Việt Nam và Danh mục Đỏ của IUCN và hơn 113 loài đặc hữu, trong đó có rất nhiều loài sinh vật quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cao như sếu đầu đỏ, rái cá lông mũi, voọc bạc Đông Dương,… Các loài này hiện nay đang được phân bố trong các HST thuộc 3 khu vực trọng điểm Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang và đang được bảo tồn tốt bởi các BQL Khu bảo tồn và lực lượng kiểm lâm địa phương.

          - Khu vực U Minh Thượng

Rừng ngập chua phèn là HST điển hình, trong vùng lõi có gần 3.000 ha “Rừng úng phèn” được xếp hạng độc đáo, hiếm quý trên thế giới, mang những đặc điểm của rừng cực đỉnh nguyên sinh với các ưu hợp rừng tràm hỗn giao và rừng tràm trên đất than bùn.

+ Thực vật tự nhiên ở VQG U Minh Thượng có 243 loài, trong đó có 70 loài là hiếm và 8 loài rất hiếm là Mốp (Alstonia spathulata), Nắp bình (Nepenthes mirabilis), Lá U Minh (Asplenium confusum), Mật cật (Licuala spinosa), Luân lan (Eulophia graminea), Năng chồi (Eleocharis retroflexa), Bí kỳ nam (Hydnophytum formicarum), Bèo tản nhọn (Lemna tenera).

+ Động vật trong VQG U Minh Thượng: Có 24 loài thú lớn, trong đó có 7 loài thú bị đe dọa trên toàn cầu, điển hình như Khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis), Rái cá vuốt bé hay Rái cùi (Aonyx cinerea), Rái cá lông mũi (Lutra sumatrana), Mèo cá (Prionailurus viverinus);  Có 185 loài chim, trong đó có 8 loài chim bị đe dọa trên toàn cầu, điển hình như Đại bàng đen (Aquila clanga), Quắm trắng đầu đen (Threskiornis melanocephalus), Già sói (Leptoptilos javanicus). Đặc biệt có sân chim quan trọng trên thế giới với sự hiện diện của các loài Quắm đen, Giang sen, Dô nách nâu, Còng cọc, Diệc lửa, chiếm tỷ lệ từ 0,98% - 5,47% tổng quần thể mỗi loài trên thế giới; Có 34 loài cá, trong đó có các loài mới được ghi nhận ở Việt Nam là Mystus sp., Phenacostethus smithi; Ngoài ra còn có 208 loài côn trùng; 16 loài bò sát và 8 loài dơi.

          - Quần đảo Phú Quốc

Quần đảo Phú Quốc gồm 40 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó đảo Phú Quốc với diện tích 589,19 km2 là đảo lớn nhất nước ta. Sự ĐDSH phong phú với các HST đặc trưng: HST rừng rậm cây lá rộng mưa ẩm nhiệt đới; HST rừng úng phèn; HST rừng ngập mặn; HST rạn san hô và HST thảm cỏ biển.

- Thực vật tự nhiên ở Phú Quốc có 1.164 loài trong đó rừng rậm cây lá rộng mưa ẩm nhiệt đới chiếm trên 90% diện tích tự nhiên của VQG Phú Quốc, chủ yếu thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Hồng (Ebenaceae),... thành phần loài với nhiều loài quý hiếm, đặc hữu có giá trị cho nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen và kinh tế.

Có 45 loài quý hiếm hoặc có nguy cơ tuyệt chủng như: Trai (Fagraea cochinchinensis), Thông lông gà (Podocarpus imbricatus), Hoàng đàn (Dacrydium pierrei), Trầm hương (Aquilaria crassna),… Sự phong phú còn thể hiện ở 54 loài đặc hữu như: Cù đèn Phú Quốc (Croton phuquocensis), Trèn Phú Quốc (Tarenna quocense), Huỳnh đàn Phú Quốc (Dysoxylum cyrtophyllum),...

- Động vật rừng có xương sống trên cạn có 221 loài, trong đó Lớp Thú 28 loài; Lớp Chim 132 loài; Lớp Bò sát 47 loài; Lớp Lưỡng thê 14 loài. Có 23 loài quý hiếm, trong đó loài có nguy cơ tuyệt chủng là Hổ mây (Ophiophagus hannah), Cá sấu nước ngọt (Crocodylus siamensis), Chồn bay (Petaurista petaurista), Vượn má trắng (Hylopetes lar), Voọc mông trắng (Presbytis francoisi), Gấu chó (Helaretos malayanus).

Động vật đặc hữu có Chó xoáy Phú Quốc (Canis dingo) và 2 loài chim là Chìa vôi vàng (Motacilla flava) và Hút mật đỏ (Aethopyga siparaja).

- Rạn san hô và thảm cỏ biển có: 260 loài san hô, 9 loài cỏ biển, trong hệ sinh thái này có 166 loài rong biển; 258 loài động vật gồm 154 loài cá, 47 loài thân mềm, 25 loài da gai,… trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao, đặc biệt có 2 loài cá Cơm là Spratelloides gracilis Stolephorus indicus là nguyên liệu chính để làm đặc sản nước mắm Phú Quốc.

Đặc biệt hơn, các thảm cỏ biển ở Phú Quốc còn gắn liền với sự tồn tại của các loài động vật quí hiếm đang cần được bảo vệ ở Việt Nam và thế giới như Bò biển (Dugong dugon) (hay còn được gọi là Dugong, cá Cúi, Mỹ Nhân Ngư), Vích Cỏ (Lepidochelys olivacea), Đồi mồi (Eremochelys imbricata), Rùa Da (Dermochelys coriacea), Ốc nhảy đỏ lợi (Strombus luhuanus), Trai ngọc môi đen (Pinctada margaritifera),...

- Khu vực Kiên Lương – Kiên Hải

Kiên Lương – Kiên Hải, được xem như là bán đảo với hơn 30% diện tích là đồi núi và hải đảo, có rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm ngập nước theo mùa vùng Tứ giác Long Xuyên. Hệ thống núi đá vôi Kiên Lương được đánh giá là ĐDSH bậc nhất trên thế giới. Tại đây, các nhà khoa học đã tìm được nhiều loài động-thực vật đặc hữu và loài mới bổ sung cho danh mục của thế giới.

- Hệ thực vật với 322 loài, có các loài quý hiếm như Chiêu liêu nghệ (Terminalia triptera), Tung (Tetrameles nudiflora), Bạch tinh (Tacca leontopetaloides) và Tuế lược (Cycas clivicola); có 3 loài mới đặc hữu là Lan bầu rượu Kiên Lương (Calanthe kienluongensis), Begonia bataiensis thuộc họ Thu hải đường (Begoniaceae) và Ornithoboea emarginata thuộc họ Tai voi (Gesneriaceae).

- Động vật hoang dã có 155 loài có xương sống, phần lớn là loài đặc hữu Đông Nam Á. Có 4 loài quý hiếm là Voọc bạc Đông Dương (Trachypithelus germaini), Rái cá cùi (Amblonyx cinera), Sóc đỏ (Callosciurus finlaysoni) và Dơi (Rhinolopus marshalli).

Hệ chim ở Kiên Lương đã ghi nhận được 61 loài, trong đó có hai loài đang bị đe dọa là Sếu đầu đỏ (Grus antigone) và Sả mỏ rộng (Pelargopsis capensis).

Đã ghi nhận được 65 loài ốc núi ở đây với 36 loài đặc hữu (chiếm tỷ lệ 55%). Ngoài ra còn có 30 dạng loài chưa định danh đến loài. Bò sát và lưỡng thê có 42 loài, trong đó có 5 loài quý hiếm, ngoài ra còn có Thạch sùng ngón (Cyrtodactylus paradoxus) là loài đặc hữu của núi đá vôi Kiên Lương.

1.3. Tình hình kinh tế - xã hội

- Từ khi được công nhận danh hiệu, Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang đã góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH, du lịch, quảng bá hình ảnh tỉnh Kiên Giang. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh đều tăng hơn so với giai đoạn trước đó, giai đoạn (2006 -2010) tốc độ tăng trưởng kinh tế 11,6%, tăng hơn giai đoạn trước 0,5%. Giai đoạn (2011-2015) do ảnh hưởng của lạm phát, suy giảm kinh tế, dịch bệnh,... nhưng với sự nỗ lực phấn đấu của các ngành, các cấp và sự chỉ đạo, lãnh đạo của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh đã thực hiện đạt được những kết quả quan trọng, khá toàn diện trên các lĩnh vực, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định ở mức khá cao so với khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Tốc độ tăng trưởng năm 2015 ước đạt 9,62% và tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 10,35%/năm. Sau 10 năm tổng thu nhập bình quân đầu người (GRDP) tăng gấp 4 lần từ 614 USD (2006) đến nay là 2.515 USD (2015). Đặc biệt một số huyện nằm trong Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang trước đây với điều kiện phát triển kinh tế còn khó khăn nay cũng đã được cải thiện như huyện Giang Thành tốc độ tăng trưởng bình quân năm 2015 là 7,88%, thu nhập bình quân trên đầu người 1.844 (USD) tăng 91,62% so với năm 2011; huyện U Minh Thượng tốc độ tăng trưởng bình quân năm 2015 là 14,03%, thu nhập bình quân trên đầu người 1.308 (USD) tăng 61,16% so với năm 2011.

- Danh hiệu Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang đã mang lại những giá trị kinh tế to lớn mà cụ thể là thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch. Năm 2006, lượng khách du lịch đến tỉnh Kiên Giang là 1.897.008 lượt khách, trong đó lượng khách quốc tế là 64.604 lượt khách. Đến năm 2015 thì lượng khách du lịch tăng lên đáng kể 4.364.666 lượt khách (tăng gấp 2,3 lần), trong đó lượng khách quốc tế 242.868 lượt khách (tăng gấp 3,8 lần). Từ việc phát triển du lịch thông qua các danh hiệu được thế giới công nhận đã có nhiều tác động tích cực đến địa phương như chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Toàn tỉnh hiện có 271 dự án đầu tư du lịch với tổng diện tích 7.561 ha và tổng vốn đầu tư là 231.965 tỷ đồng; trong đó có 179 dự án được cấp Giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) với tổng quy mô 4.271 ha và tổng vốn đầu tư khoảng 131.582 tỷ đồng, 92 dự án có chủ trương đầu tư với tổng quy mô 3.343 ha và tổng vốn đầu tư ước 100.383 tỷ đồng. Riêng địa bàn Phú Quốc có 215 dự án đầu tư du lịch (chiếm 79% dự án đầu tư toàn tỉnh), với diện tích 6.136 ha và tổng vốn đầu tư là 222.478 tỷ đồng; trong đó có 157 dự án được cấp GCNĐT với quy mô 3.721 ha và tổng vốn đầu tư 126.022 tỷ đồng, có 58 dự án có chủ trương đầu tư với quy mô 2.595 ha và tổng vốn đầu tư ước 96.456 tỷ đồng; cơ sở hạ tầng được nâng cấp,...

- Theo Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang (2015) trong Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang có khoảng 734.542 người, sinh sống tại địa bàn 10 huyện/thị bao gồm 4 phường, 6 thị trấn và 56 xã; trong đó vùng Lõi không có người sinh sống, vùng Đệm có 395.799 người và vùng Chuyển tiếp có 338.743 người.

                                  Bảng 1: Dân số trong Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang (2015)

Vùng

Khu vực

Huyện

Xã/Thị trấn

Số dân

Vùng lõi

Phú Quốc

1

6

0

U Minh Thượng

1

2

0

Kiên Lương – Kiên Hải

1

2

0

Cộng

3

10

0

Vùng đệm

Phú Quốc

1

5

29.657

U Minh Thượng

4

18

207.050

Kiên Lương – Kiên Hải

4

15

154.476

Cộng

9

38

391.183

Vùng chuyển tiếp

Phú Quốc

1

3

67.557

U Minh Thượng

4

13

162.778

Kiên Lương – Kiên Hải

5

16

113.024

Cộng

10

32

343.359

Tổng cộng

734.542

 (Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang, 2015)

- Nhờ áp dụng hiệu quả các mô hình quản lý bền vững và những giải pháp hỗ trợ cho những hộ nghèo, nên số hộ nghèo của toàn tỉnh trong đó phần lớn nằm trong khu vực Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang đã giảm từ 31.241 hộ nghèo năm 2006 (tiêu chí cũ) xuống còn 6.070 hộ năm 2015 (tiêu chí cũ). Như vậy trong vòng gần 10 năm (2006-2015) đã giảm bình quân mỗi năm được 2.517 hộ nghèo. Cùng thời gian trên tỷ lệ hộ nghèo cũng giảm từ 8,98% xuống còn 2,73%.

II. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KHU DTSQ THẾ GIỚI KIÊN GIANG

2.1. Cơ cấu tổ chức quản lý

BQL Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang được thành lập theo Quyết định số 811/QĐ-UB ngày 30/3/2010 của UBND tỉnh Kiên Giang và Quyết định số 1559/QĐ-UBND ngày 30/7/2016 của UBND tỉnh Kiên Giang về việc kiện toàn BQL do một Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban và các thành viên là lãnh đạo các sở, ban, ngành và địa phương có liên quan trong tỉnh như: Sở KH&CN (Cơ quan thường trực BQL); Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Tài chính; Sở Giáo dục và Đào tạo; Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Ngoại vụ; Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị tỉnh, VQG U Minh Thượng, VQG Phú Quốc, BQL Khu bảo tồn Biển Phú Quốc, BQL rừng Phú Quốc, BQL rừng An Biên - An Minh, BQL rừng Hòn Đất – Kiên Hà và Chủ tịch UBND các huyện nằm trong Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang, đặc biệt bố trí bộ máy, biên chế chuyên trách của Văn phòng Điều hành BQL Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang với 07 biên chế, 01 Chánh Văn phòng chuyên trách quản lý, ngoài ra còn có 2 Phó Giám đốc Sở KH&CN phụ trách kiêm nhiệm.

BQL Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang là tổ chức tham mưu giúp UBND tỉnh quản lý Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang theo các quy định của Pháp luật Việt Nam và theo hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của UBQG UNESCO Việt Nam và UBQG MAB Việt Nam. Tổ chức điều phối và phối hợp hoạt động cùng các sở, ngành, đơn vị và địa phương liên quan trong tỉnh.

Ngoài việc phối hợp các sở, ban, ngành và địa phương trong tỉnh thực hiện triển khai các đề tài, dự án và ứng dụng tiến bộ KH&CN nhằm năng cao giá trị bảo tồn và phát triển Khu DTSQ, còn có sự hợp tác và hỗ trợ các công tác nghiên cứu điều tra khảo sát về ĐDSH, HST, môi trường, BĐKH,…và hỗ trợ kỹ thuật, công tác truyền thông, nâng cao năng lực cộng đồng, xây dựng các mô hình sinh kế,… của các tổ chức, các viện, trường ở trong nước và quốc tế (Trường Đại học Khoa học tự nhiên Tp.HCM, Trường Đại học Cần Thơ, Viện Nghiên cứu BĐKH trường Đại học Cần Thơ, Viện Sinh thái học Miền Nam, Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam, Viện Sinh học Nhiệt đới,… Tổ chức IUCN, WWF, WAR, GIZ, ActionAid, Trường Đại học Queensland,…

                             Cơ cấu Ban quản lý Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang 

 

2.2. Quản lý vùng lõi

a) Phương thức quản lý

- Vùng lõi của Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang thuộc sự quản lý trực tiếp của các BQL Khu bảo tồn như: VQG U Minh Thượng, VQG Phú Quốc, Khu Bảo tồn thiên nhiên – văn hóa Hòn Chông và Khu Bảo tồn biển Phú Quốc. Trách nhiệm quản lý vùng lõi của Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang là của các BQL khu bảo tồn và chính quyền địa phương nơi có khu bảo tồn. Mọi hoạt động diễn ra trong vùng lõi đều phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về quản lý rừng đặc dụng và theo quy chế quản lý của các khu bảo tồn được UBND tỉnh phê duyệt.

b) Nội dung quản lý.

- Điều tra, lập danh lục và xây dựng cơ sở dữ liệu: Tất cả các loài động-thực vật kể cả các loài nguy cấp trong Sách Đỏ cần được bảo tồn và các loài mới phát sinh nếu có; các địa danh, các hoạt động văn hoá truyền thống trong vùng lõi.

- Thường xuyên đánh giá, điều chỉnh và bổ sung: Điều kiện tự nhiên, hiện trạng rừng, các HST tự nhiên; các giá trị về ĐDSH, nguồn gen sinh vật, giá trị lịch sử, văn hóa, cảnh quan, khoa học, thực nghiệm, giáo dục môi trường, cung ứng dịch vụ môi trường rừng, những tác động của tham quan, du lịch.

- Xây dựng chương trình hoạt động, giải pháp thực hiện, tổ chức quản lý nhằm thực hiện mục tiêu bảo tồn: Xây dựng kế hoạch hoạt động hàng năm và 5 năm nhằm thực hiện từng mục tiêu bảo tồn; xây dựng, đề xuất các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học hoặc các dịch vụ nghiên cứu khoa học trình cấp thẩm quyền phê duyệt, thực hiện hàng năm hoặc dài hạn; đánh giá các biện pháp và giải pháp bảo tồn hiện tại; đánh giá hiệu quả các giải pháp hiện tại; dự kiến các giải pháp đối với những tác động từ hoạt động khai thác kinh doanh du lịch; phải lập kế hoạch quản lý chặt chẽ các hoạt động dịch vụ du lịch, di chuyển hoặc hạn chế một số hoạt động du lịch gây tác động xấu và lâu dài đến Khu DTSQ.

2.3. Quản lý vùng chuyển tiếp

a) Phương thức quản lý

          Vùng chuyển tiếp thuộc sự quản lý trực tiếp của chính quyền địa phương. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, mặt nước, thay đổi quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH phải phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển KT-XH bền vững của địa phương.

b) Nội dung quản lý

- Các hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục và đào tạo cho các tầng lớp người lớn tuổi, thanh niên và các tầng lớp xã hội.

- Giám sát các tác động môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

- Phát triển kinh tế địa phương: Quảng cáo chất lượng sản phẩm mang nhãn hiệu Khu DTSQ

- Phát triển các hình thức kinh doanh (nhà nước, tập thể, tư nhân), tìm kiếm các giải pháp công nghệ, tài chính giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

2.4. Quản lý vùng đệm

  a) Phương thức quản lý

- Vùng đệm của Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang thuộc sự quản lý trực tiếp của chính quyền địa phương, BQL khu bảo tồn và BQL rừng phòng hộ. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, mặt nước, thay đổi quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và mục tiêu, định hướng phát triển KT-XH bền vững của địa phương.

  b) Nội dung quản lý.

- Giám sát các hoạt động của các tổ chức và cá nhân trong vùng đệm gây ảnh hưởng tới ĐDSH, HST và môi trường vùng lõi của Khu DTSQ KG.

  - BQL khu bảo tồn và BQL rừng phòng hộ chủ trì, phối hợp với các sở, ngành và chính quyền địa phương nằm trong vùng đệm xây dựng kế hoạch quản lý và phát triển KT-XH ở vùng đệm; xây dựng phương án chia sẻ lợi ích và trách nhiệm với nguồn lợi ĐDSH; tham gia thẩm định và tổ chức quản lý các dự án đầu tư vào vùng đệm.

- Tăng cường sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở khoa học và kinh nghiệm truyền thống, xây dựng mô hình phát triển kinh tế và bảo tồn, phát triển mạng lưới thị trường, hình thành trang trại có hiệu quả kinh tế.

- Các kế hoạch chiến lược cho vùng đệm như kế hoạch xây dựng tổng thể và kế hoạch phát triển vùng đệm đòi hỏi phải có chiến lược đánh giá tác động môi trường (SEIA) theo qui định của pháp luật. BQL Khu bảo tồn và BQL Khu DTSQ sẽ tham gia tích cực vào quá trình đánh giá và rà soát các kế hoạch.

          - Việc thực hiện các dự án quy hoạch ở vùng đệm phải tham vấn ý kiến của BQL Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang và các ngành chức năng liên quan.

2.5. Nhận xét

2.5.1. Thuận lợi

- Được sự quan tâm hỗ trợ của Đảng và chính quyền địa phương.

- Đã có Quy chế hoạt động và quản lý Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang.

- Hỗ trợ của các tổ chức trong nước và quốc tế.

- BQL Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang được thành lập, bao gồm các bên có liên quan như: sở, ban, ngành, địa phương và các VQG, BQL Khu bảo tồn.

- Các vùng lõi Khu DTSQ Thế giới Kiên Giang đều có BQL Khu bảo tồn.

- Hầu như không có dân cư sinh sống trong vùng lõi.

2.5.2. Khó khăn và thách thức

(i). Biến đổi khí hậu (BĐKH) là mối đe dọa lớn nhất và có tác động lớn lên tính bền vững của khu bảo tồn. Nhiều vùng trong Khu DTSQ nằm trong vùng có nguy cơ tiềm tàng cao bị ảnh hưởng bởi nước biển dâng.     

 (ii). Các thay đổi về chế độ dòng chảy của sông Mê Kông trong tương lai do BĐKH và các đập thủy điện ở thượng nguồn đã và đang hoặc sẽ được xây dựng ảnh hưởng đến chế độ lũ hàng năm và giảm mực nước vào mùa khô (Sở TN&MT Kiên Giang, 2007; Ủy Ban sông Mê Kông, 2010).

(iii). Lửa rừng là mối đe dọa lớn đối với HST rừng tràm VQG U Minh Thượng; đồng cỏ, rừng lá rộng thường xanh ở VQG Phú Quốc, Khu BTTN Hòn Chông…

(iv). Nuôi trồng thủy sản là một thách thức khác trong vấn đề quản lý Khu DTSQ bởi vì nó có thể làm giảm diện tích rừng ngập mặn.

(v). Việc khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản vùng ven biển cũng là một vấn đề với hơn 11.000 tàu đánh cá được đăng ký trong khu vực vùng đệm và vùng chuyển tiếp của Khu DTSQ (Chu Văn Cường và Dart, 2011). Mặc dù Khu Bảo tồn biển Phú Quốc nằm gần đảo Phú Quốc nhưng nó vẫn chưa được người dân nhận thức một cách đúng đắn và thường bị xâm nhập và khai thác trái phép. Việc khai thác trái phép ở khu vực nước nông cũng là một rủi do đến HST ven biển đặc biệt là thảm cỏ biển, một HST rất quan trọng đối với loài bò biển và các loài cá, thuỷ sản (BQL Khu bảo tồn biển Phú Quốc, 2009). Số lượng bò biển đang giảm nhanh khi mà chúng là đối tượng đang bị săn bắt vì có giá trị cao (Hines và cộng sự, 2008). Lượng cá ngựa và đồi mồi cũng đang cạn kiệt do bị khai thác quá mức (Giles và cộng sự, 2005).   

(vi). Hoạt động săn bắn, buôn bán trái phép các loài động vật hoang dã như tê tê, bò sát cũng là mối nguy cơ đe doạ đến sự bền vững các quần thể này. Cộng đồng địa phương thường không nhận thức được lợi ích của việc bảo tồn HST mà họ đang sống ở trong và xung quanh mình (Hamman và cộng sự, 2006; Nguyễn Xuân Đặng, 2009).  

(vii). Ô nhiễm nước trên sông, kênh rạch từ chất thải sinh hoạt và nước lũ cũng gây ra ô nhiễm vùng ven biển. Hiện tượng tảo độc phát triển mạnh do ô nhiễm nước ở khu vực ven biển có thể gây bệnh cho con người (ví dụ khu vực cạnh các khu nghỉ dưỡng ở Phú Quốc). Ô nhiễm chất thải nhựa, túi ny lông từ các khu vực dân cư và khu vực tàu thuyền neo đậu và làm chết các loài động, thực vật biển. Thuốc trừ sâu và hàm lượng ni tơ, phốt pho trong các kênh rạch và ở đầm Đông Hồ có nguồn gốc từ việc sử dụng quá mức trong sản xuất nông nghiệp (chủ yếu là sản xuất lúa) gây hại lớn đối với sự phát triển của động-thực vật biển (Sở TN&MT Kiên Giang, 2007).

(viii). Việc lấn chiếm đất trái phép ở các khu vực xung quanh VQG, đặc biệt và khu vực đảo Phú Quốc.

(ix). Quy hoạch sử dụng đất cho khu vực dân cư, du lịch và phát triển nông nghiệp trong khu vực vùng đệm của VQG và khu vực chuyển tiếp khu DTSQ đặc biệt ở Phú Quốc. Điều này rất quan trọng cho sự phát triển bền vững các hoạt động du lịch. 

(x). Sự xuống cấp và mất đi các di sản văn hóa.

III. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG BỘ TIÊU CHÍ VÀ QUY TRÌNH GIÁM SÁT, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ

3.1. Sự cần thiết.

- Theo GS. Marc Hockings: đánh giá hiệu quả quản lý là đánh giá Khu DTSQ, hay khu bảo tồn đang được quản lý như thế nào, các kết quả, thành quả từ hoạt động quản lý/đầu tư – việc tăng cường hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy các giá trị, các mục đích và mục tiêu đã đạt được.

- Chiến lược Seville (1995) yêu cầu các Khu DTSQ và các nước thành viên tiến hành xây dựng báo cáo đánh giá 10 năm dựa trên kết quả giám sát, đánh giá các hoạt động bảo tồn, phát triển, nghiên cứu, giáo dục môi trường,… đã thực hiện tại các Khu DTSQ.

- Bộ tiêu chí đánh giá và quy trình giám sát đánh giá sẽ cung cấp các phương tiện và thông tin cần thiết cho để các nhà quản lý trong Khu DTSQ có thể xây dựng các chương trình giám sát và đánh giá hiệu quả quản lý. Bộ công cụ này sẽ cung cấp phương pháp tiếp cận thích hợp về giám sát và quản lý hoạt động trong Khu DTSQ, trong đó tập trung đặc biệt tới phương thức giám sát tính hiệu quả của các chương trình, dự án bảo tồn và phát triển Khu DTSQ.

                          Sơ đồ quy trình giám sát đánh giá hoạt động quản lý

 

3.1. Hiệu quả dự kiến sau khi áp dụng

- Bộ công cụ được xây dựng nhằm giúp các nhà quản lý:

·        Quản lý tốt hơn (dạng Quản lý thích ứng).

·        Giúp xây dựng các báo cáo có tính rõ ràng và minh bạch hơn.

·        Giúp các nhà quản lý, qui hoạch phân bổ/bố trí nguồn lực hiệu quả hơn (xác định hoạt động ưu tiên).

·        Giúp xây dựng một cơ chế hỗ trợ (mức độ nhận thức và tham gia của các chủ thể có liên quan).

·        Quản lý và thực hiện một chương trình giám sát một cách thường xuyên.

·        Giúp thu thập thông tin giám sát với độ chính xác khoa học hợp lý.

3.3. Hạn chế, bất cập có thể xảy ra khi áp dụng.

- Bộ công cụ có thể sẽ chưa hoàn hảo ngay từ lần đầu tiên. Tình thế thay đổi và sẽ có thêm các số liệu mới, các kết quả có vẻ như phù hợp lúc đầu nhưng sau này có thể lại trở nên không chấp nhận được. Sau mỗi năm giám sát, cần tổ chức công tác kiểm tra. Dựa trên các kết quả rà soát, cần đưa ra thay đổi và cải thiện đối với khung giám sát. Đây là một quá trình quản lý có khả năng thích nghi. Quản lý thích nghi là học hỏi để đối phó với sự thay đổi bằng cách giám sát, thử nghiệm và học hỏi.

- Mặc dù Bộ công cụ này cung cấp một bộ tiêu chí và quy trình giám sát, đánh giá hiệu quả quản lý của các Khu DTSQ Thế giới Việt Nam, nhưng nên luôn nhớ rằng mỗi Khu DTSQ Thế giới Việt Nam đều có đặc thù riêng. Mỗi bộ tiêu chí và quy trình giám sát cần phải là một tài liệu sống có thể điều chỉnh và cập nhật bất cứ lúc nào. Không phải tất cả các Khu DTSQ Thế giới Việt Nam đều đòi hỏi một mức độ và loại hình giám sát như nhau. Chúng cũng sẽ không đối mặt với những vấn đề giống nhau hay sử dụng cùng chỉ tiêu. Tuy nhiên có thể sử dụng các bước tương tự như nhau để xây dựng một quy trình giám sát, đánh giá.

IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1. Kết luận

Chức năng Khu DTSQ rất nhiều và đa dạng; các hoạt động quản lý là phối hợp cả về kỹ thuật, hành chính và chính sách. Khu DTSQ cần được bảo tồn thích ứng với hệ thống hành chính, điều kiện KT-XH và văn hoá vốn rất khác nhau ở từng địa phương. Bộ tiêu chí và quy trình giám sát đánh giá cần phải thiết kế phù hợp cho từng phân vùng theo cấu trúc và chức năng; trình tự các vấn đề được đề cập bao gồm: Hiện trạng, đánh giá và sắp xếp vấn đề ưu tiên, xác định mục tiêu, biện pháp thực hiện. Ngoài ra, bộ tiêu chí và quy trình giám sát đánh giá cần xây dựng cho phù hợp điều kiện hoàn cảnh cụ thể từng Khu DTSQ nhằm thực hiện hiệu quả ý tưởng “Khu DTSQ là nơi gặp gỡ giữa Con người và Thiên nhiên”.

4.2. Kiến nghị

- Bộ tiêu chí ĐG, GS cùng quy trình ĐG, GS là rất cần thiết và cần phải sớm hoàn thiện.

- Các TC cốt lõi cần định lượng (điểm, từ 1-5). Các Vùng; Đối tượng;… khác nhau có trọng số khác nhau. Sử dụng mô hình sơ đồ Hoa để biểu diễn và phân tích trên từng TC. Riêng Tổng cộng chung cần bảng xếp loại theo nhóm điểm: Kém, TB, Khá, Tốt, Rất tốt.

- Thêm nội dung BĐKH vào trong bộ tiêu chí đánh giá vì ĐTM cũng đã có đưa BĐKH.

- Gộp các tiêu chỉ gần kề lại để gọn hơn, dễ sử dụng, hiệu quả hơn,…

- UB.MAB Việt Nam ban hành văn bản bộ tiêu chí và quy trình giám sát khung để các Khu DTSQ vận dụng ban hành và triền khai thực hiện.

- UB.MAB Việt Nam cùng Nhóm NC đề tài tập huấn hướng dẫn các Khu DTSQ sử dụng.

- Cần được triển khai thí điểm như đã trình bày trong dự thảo: Cát Bà và Cù Lao Chàm, nên thêm tỉnh Kiên Giang vào triển khai thí điềm

- Sau đó tổ chức hội thảo các nơi đã triển khai thí điễm, cũng như tổ chức Hội nghị sơ kết rút kinh nghiệm chung./.

 

TS. Nguyễn Xuân Niệm và ThS. Lý Minh Tài

(Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới Kiên Giang)

Admin
Thư viện ảnh
Hoạt động thể thao
Video
Web liên kết
Quảng cáo