TÁC ĐỘNG CỦA XÂM NHẬP MẶN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC ÁP DỤNG TẠI TỈNH KIÊN GIANG A A

26/04/2016

I. Tổng quan.

Kiên Giang có diện tích tự nhiên là 634.878 ha, dân số là 1,762.281 người, trong đó có trên 70% dân sống khu vực nông thôn. Kiên Giang có 15 đơn vị hành chính trong đó có 09 huyện, thị thành phố tiếp giáp biển đặc biệt là 2 huyện đảo (Phú Quốc và Kiên Hải), địa hình và đặc điểm sinh thái đa dạng, bờ biển dài 200km kéo dài từ Mũi Nai (Thị xã Hà Tiên) đến Tiểu Dừa (huyện An Minh) tiếp giáp Vịnh Thái Lan. Với thế mạnh về nông nghiệp (trồng trọt và thủy hải sản), Kiên Giang là tỉnh trọng điểm sản xuất lúa của ĐBSCL và cả nước, sản lượng lúa năm 2015 đạt 4,62 triệu tấn, sản xuất thủy sản cũng chiếm vị trí quan trọng, sản lương khai thác và nuôi trồng đạt 677.200 tấn trong đó nuôi trồng 163.423 tấn.   

Thời gian qua, do nắng hạn gay gắt, mưa ít và tác động của xâm nhập mặn đã ảnh hưởng trực tiếp và gây thiệt hại nghiêm trọng đối với các hoạt động sản xuất và đời sống nhân dân trên phạm vi từng vùng, từng nhóm hoạt động sản xuất và sinh hoạt, theo những mức độ nhất định. Từ mùa khô năm 2015-2016, nước mặn đã xâm nhập sớm và sâu hơn so với các năm trước càng gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và đời sống nhân dân địa phương nói chung, nhất là khu vực ven biển và các huyện đảo.

II. Tình hình xâm nhập mặn ở Kiên Giang.

Diễn biến nhiệt độ: tỉnh Kiên Giang năm 2015 có sự thay đổi so với nhiệt độ trung bình nhiều năm. Cụ thể: giai đoạn tháng 01 – 4 nhiệt độ ở mức xấp xỉ và thấp hơn trung bình các năm trước nhưng trong giai đoạn từ tháng 5 – 10 lại cao hơn từ 0,5 – 10C. Đặc biệt trong giai đoạn cuối tháng 4 đến đầu tháng 6 xuất hiện nắng nóng khá gay gắt, nhiệt độ trung bình hiện diện 36,60C.

Về tình hình mưa: Mùa khô có xuất hiện mưa trái mùa nhưng lượng mưa không đáng kể. Thời điểm bắt đầu mùa mưa năm 2015 (cuối tháng 5) cũng muộn hơn so với các năm trước và diễn biến cũng khác hơn. Lưu lượng mưa đầu mùa (tháng 7, tháng 8) thiếu hụt khoảng 70 – 80% so với lưu lượng trung bình các năm trước dẫn đến tổng vũ lượng cả năm thiếu hụt khoảng 20 – 30% (chỉ có tháng 9 lượng mưa nhiều hơn trung bình các năm trước).

Diễn biến mực nước: Theo Chi cục Thủy lợi, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Kiên Giang (Báo cáo số 04/TB-CCTL ngày 05/02/2016). Mực nước đầu nguồn sông Cửu Long ở mức thấp hơn so với cùng kỳ từ 0,06 – 0,09m dẫn đến lượng nước đầu nguồn đổ về Kiên Giang ít hơn, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng. nhất là vào những đợt triều cường.

Diễn biến xâm nhập mặn: Số liệu tại một số điểm quan trắc cho thấy, trên các tuyến kênh chính (Rạch Giá – Long Xuyên,  Rạch Giá – Hà Tiên, Cái Sắn và Sông Cái Lớn), tình hình xâm nhập mặn biểu hiện khá rõ. Tại Thành phố Rách Giá, trung tâm hành chính của tỉnh, xâm nhập mặn tiến sâu hơn 2 km so với thời điểm cùng kỳ. Ở những khu vực khác, diễn biến xâm nhập mặn nghiêm trọng hơn. Tại, khu vực Tứ giác Long Xuyên, nước mặn tiến sâu vào nội đồng khoảng 36 km, hiện diện ở mức 4g/l (Cầu Mẹt Lung, Kênh T3) trong khi số liệu đo đạc cùng kỳ (02/2015), độ mặn không hiện diện ở vị trí 18km so với cửa biển (Cầu Số 3). Nồng độ muối cũng hiện diện cao tại một số điểm quan trắc sso với cùng kỳ. Khu vực Tứ giác Long Xuyên (các huyện Hòn Đất Kiên Lương và Thị xã Hà Tiên), độ mặn tại một số điểm tăng từ 2-9 g/l. Tại Khu vực Bán đảo Cà Mau (các huyện An Biên, An Minh), độ mặn còn tăng cao hơn (từ 3-21g/l).

III. Ảnh hưởng xâm nhập mặn đến sản xuất và đời sống.

Theo Báo cáo của ngành nông nghiệp tỉnh Kiên Giang, trong vụ lúa Hè Thu và Thu Đông năm 2015, tổng diện tích lúa bị thiệt hại 29,577,01 ha và diện tích cây màu là 123 ha, tổng số hộ bị thiệt hại là 16.316 hộ, giá trị thiệt hại 861,3 tỷ đồng; Vụ lúa Mùa và Đông Xuân 2015-2016 có 56.505,04 ha diện tích lúa và 26,7 ha cây màu bị thiệt hại, tổng số hộ bị thiệt hại là 31.175 hộ; giá trị thiệt hại là 1.489,5 tỷ đồng

             Về nuôi trồng thủy sản: do ảnh hưởng hạn mặn diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt giảm; diện tích nuôi tôm nước lợ có tăng, nhưng do ảnh hưởng thời tiết bất lợi diện tích tôm nuôi thiệt hại trong năm 2015 là 11.416 ha do biến động bất lợi về môi trường, độ mặm qúa cao (trên 30g/l) nên năng suất, sản lượng nuôi đạt thấp so kế hoạch, ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân. (Báo cáo số 65/BC-SNNPTNT ngày 23/3/2016 của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn).

          

Đoàn công tác ngành KH&CN khảo sát diễn biến xâm nhập mặn vùng U Minh Thượng

 

            Do nắng hạn kéo dài, mặn xâm nhập sâu đến nay, 09 xã ven biển của huyện An Minh (3.000 hộ) và An Biên (5.000 hộ), các xã của huyện Kiên Lương (600 hộ), huyện Giang Thành (1.600 hộ) và 06 xã đảo của huyện Kiên Hải (6.000 hộ) đang thiếu nước sinh hoạt. Tại Thành phố Rạch Giá và một số trung tâm huyện thị của tỉnh cũng chịu ảnh hưởng bởi tác động hạn hán và xâm nhập mặn đến sinh hoạt do các hồ chứa dự phòng của các đơn vị cấp nước trên địa bàn không thể bổ sung nguồn nước có chất lượng đảm bảo (độ mặn koong thích hợp) đáp ứng yêu cầu xử lý cung cấp cho người dân.

            Theo dự báo, hiện tượng hạn hán, xâm nhập mặn có thể tiếp tục kéo dài đến tháng 6/2016, tình hình khô hạn, xâm nhập mặn sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất lúa nhất là các huyện vùng U Minh Thượng với diện tích và các huyện khu vực ven biển, vùng ven sông Cái Lớn, Cái Bé huyện Châu Thành và Gò Quao. Tình hình thiếu nguồn nước sinh hoạt cũng rất nghiêm trọng, cần có giải pháp cấp bách đảm bảo nguồn nước sinh hoạt cho nhân dân trong mùa khô.     

  IV. Một số giải pháp khắc phục xâm nhập mặn của địa phương.

            Về chủ trương: Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân Tỉnh Kiên Giang và các ngành có liên quan đã có nhiều báo cáo và kế hoạch chỉ đạo thực hiện việc phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn trong thời gian qua như: Chỉ thị số 01-CT/TU ngày 08/3/2016 của Tỉnh ủy Kiên Giang về việc thực hiện các giải pháp phòng, chống hạn, xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh; Chỉ thị số 2762/CT-UBND ngày 11/11/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc tăng cường thực hiện các giải pháp phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn năm 2016, đối phó với hiện tượng El Nino, Quyết định số 2940/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang ngày 30/11/2015 về việc thành lập Ban Chỉ đạo Cấp nước an toàn tỉnh Kiên Giang; Kế hoạch số 116/KH-UBND ngày 03/12/2015 và triển khai hội nghị trực tuyến với các ngành, địa phương về công tác phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn, đối phó với ảnh hưởng của hiện tượng El Nino mùa khô 2015-2016. Theo đó, các sở ngành, trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ được phân công đã cụ thể hóa triển khai các giải pháp đối phó cụ thể.

Về tình hình và một số kết quả thực hiện phương án phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn:

- Ngành nông nghiệp: đã chỉ đạo vận hành tốt việc đóng, mở hệ thống cống trên tuyến đê biển và đôn đốc các địa phương triển khai đắp các đập ngăn mặn (tổng số đập ở các địa phương hoàn thành 118/154 đập); Chi cục Thủy lợi tăng cường chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình thủy lợi theo kế hoạch để sớm đưa vào khai thác, tạo nguồn nước tưới cho sản xuất và sinh hoạt cho người dân; Trên cơ sở đặc điểm nguồn nước của từng vùng, bố trí cơ cấu cây trồng, thời vụ sản xuất hợp lý, tranh thủ xuống giống sớm để đề phòng thiếu nước, xâm nhập mặn vào cuối vụ. Đối với các vùng nuôi thủy sản, căn cứ vào dự báo hạn mặn, tình hình thời tiết để điều chỉnh lịch mùa vụ thả nuôi thích hợp.

- Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội: đã rà soát thống kê các hộ nghèo và cận nghèo bị thiệt hại do hạn mặn có khả năng thiếu ăn, thiếu vốn khôi phục sản xuất, có chính sách hỗ trợ lương thực, giống sản xuất để ổn định sinh kế và đời sống nhân dân bị thiên tai.

- Ngành Tài chính: thực hiện các thủ tục tạm ứng ngân sách tỉnh hỗ trợ thiệt hại cho các hộ dân bị thiên tai (trong tháng 3/2016), để người dân ổn định cuộc sống và tái sản xuất vụ lúa Hè Thu và Thu Đông 2016.

- Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố: triển khai phương án thủy lợi phục vụ sản xuất lúa vụ Hè Thu 2016; tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để vận động, hướng dẫn nhân dân sử dụng nước tiết kiệm, thực hiện tốt công tác phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn; triển khai theo dõi xâm nhập mặn từng khu vực trong địa bàn để có biện pháp chủ động phòng, chống có hiệu quả. Kiểm tra, xử lý những sự cố hư hỏng các công trình thủy lợi, tập trung nạo vét, tu bổ hệ thống kênh mương do các đơn vị, địa phương quản lý, tăng cường công tác quản lý, khai thác, sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả.

- Công ty Cấp nước: chủ động phối hợp các địa phương giải quyết  tăng  nguồn cung cấp, phương tiện chứa trữ nước, vận chuyển nước phục vụ sinh hoạt  cho nhân dân vùng ven biển và các xã đảo trong mùa khô năn 2016.

- Đài Khí tượng Thủy văn: theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, diễn biến hạn - mặn. Tăng cường công tác điều tra xâm nhập mặn trên các tuyến kênh chính, kịp thời thông báo cho các ngành, địa phương và nhân dân biết để chủ động trong sản xuất và sinh hoạt. 

- Riêng ngành Khoa học và Công nghệ đã chủ động tham mưu một số công tác liên quan đến nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học, vần dụng các thành tựu, kết quả nghiên cứu trong thời gian qua có liên quan đến việc giảm thiểu tác động của hạn hán và xâm nhập mặn để chủ động đề xuất áp dụng trong địa phương như:

+ Về quản lý và kỹ thuật: đã giới thiệu các biện pháp quản lý và kỹ thuật điều tiết nước (đập tràn, đập di động) các giải pháp trồng rừng phòng hộ, mô hình cộng đồng thích ứng biến đổi khí hậu, các giải pháp cải thiện sinh kế người dân;

+ Trong sản xuất: đã giới thiệu kết quả các mô hình nuôi trồng thủy sản mặn lợ, mô hình nuôi cá lồng bè, mô hình nuôi tôm luân canh trồng lúa, kỹ thuật lấy nước biển nuôi tôm, các mô hình nuôi thủy sản ven biển trong điều kiện thích ứng biến đổi khí hậu; nghiên cứu, chọn tạo các bộ giống lúa chịu mặn, áp dụng kỹ thuật tưới nước ngập khô xen kẻ,...

+ Trong sinh hoạt và đời sống: đã giới thiệu các kiểu mô hình xử lý nước sạch cho cụm dân cư, học đường, các thiết bị xử lý nước biển phục vụ sinh hoạt. Các biện pháp trên được thực hiện thông qua các hình thức tuyên truyền hoạch xây dựng mô hình thí điểm áp dụng, theo những chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ cụ thể hoặc lồng ghép vào các dự án, chương trình chung của trung ương và địa phương.

V. Một số đề xuất và kiến nghị.                                  

            Hạn hán, xâm nhập mặn đã, đang và sẽ tiếp tục ảnh hưởng, tác động tiêu cực đến Kiên Giang, tập trung nhiều ở các vùng ven biển khu vực Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau và các huyện đảo. Các nhân tố chịu ảnh hưởng chính vẫn là sản xuất (nhất là sản xuất nông nghiệp) và đời sống, sinh hoạt nhân dân (chủ yếu là vấn đề nước sinh hoạt).

            Trong thời gian tới, để tiếp tục góp phần vào việc thực hiện phương án phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn cũng như tham gia vào các giải pháp khắc phục của địa phương một các có hiệu quả, ngành Khoa học và Công nghệ tỉnh Kiên Giang có một số kiến nghị đối với các Bộ ngành liên quan và địa phương như sau:

- Sớm hoàn thành các công trình, dự án về thủy lợi tại địa phương theo quy hoạch ngành nông nghiệp để chủ động trong việc xây dựng kế hoạch các ban, ngành liên quan một cách phù hợp (trong đó có ngành khoa học và công nghệ).

- Xây dựng khung chính sách liên kết (quốc gia, vùng, địa phương) về quy hoạch, quản lý, khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước một cách có hiệu quả và bền vững.

- Tổ chức các cuộc Hội thảo/Hội nghị về các giải pháp sản xuất thích ứng trong điều kiện hạn hán và xâm nhập mặn để tuyên truyền giới thiệu các kết quả thành tựu khoa học và công nghệ áp dụng vào sản xuất cũng như thảo luận các biện pháp tổ chức quản lý, chủ động phòng ngừa ảnh hưởng của hạn hán và xâm nhập mặn có hiệu quả trong thời gian tới.

- Phê duyệt và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (dưới dạng đề tài/dự án các cấp) liên quan đến các vấn đề nước sạch và các mô hình sản xuất thích ứng hạn hán và xâm nhập mặn trong điều kiện tỉnh Kiên Giang. Trong đó, đặc biệt lưu ý đến các khu vực ven biển và hải đảo./.

 

Huỳnh Chánh Khoa, Phòng QLKH

Admin
Thư viện ảnh
Hoạt động thể thao
Video
Web liên kết
Quảng cáo