Kiểm tra tiến độ đề tài Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh học và thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá Lưỡi trâu U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang A A

01/02/2018
Với mục tiêu phát triển nhãn hiệu tập thể mắm cá Lưỡi trâu U Minh Thượng góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kiên Giang, năm 2016 tỉnh Kiên Giang phê duyệt triển khai thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh học và thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá Lưỡi trâu U Minh Thượng” do Trường Đại học Nha Trang chủ trì thực hiện, ThS. Trần Văn Phước làm chủ nhiệm.

ThS. Trần Văn Phước đang thu mẫu cá tại lưới đáy

Ngày 26/01/2018 Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tỉnh Kiên Giang tổ chức Đoàn kiểm tra tiến độ, tình hình triển khai thực hiện các nội dung đã thực hiện của đề tài. Tham gia đoàn kiểm tra có TS. Nguyễn Xuân Niệm - Phó Giám đốc, ThS. Lã Ánh Nguyệt – Phó trưởng Phòng Quản lý Khoa học, bà Lê Thị Hương – Kế toán trưởng, Sở KH&CN; ThS. Trần Văn Phước - chủ nhiệm đề tài; ThS. Phạm Ngọc Diễu – cán bộ Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện U Minh Thượng.

Theo báo cáo của Trường Đại học Nha Trang và Nhóm thực hiện, đề tài đã xác định được 06 trạm thu mẫu cố định tại các xã Thạnh Yên, Thạnh Yên A và Hòa Chánh; đã triển khai thu thập thông tin thứ cấp, sơ cấp, thu mẫu thực địa từ tháng 02/2017 đến nay để xác định: vùng phân bố và đặc điểm sinh thái vùng có cá Lưỡi trâu phân bố; một số đặc điểm sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh học sinh sản của cá Lưỡi trâu; thu mẫu và định danh loài cá Lưỡi trâu sử dụng để làm mắm; thu mẫu cá sống để thực hiện các nội dung thử nghiệm sinh sản và nuôi thương phẩm. 

 

                                            ThS. Trần Văn Phước đang thu mẫu bùn đáy (hình trái); Thu mẫu động – thực vật phù du (hình phải)

Kết quả bước đầu đã xác định được vùng phân bố của cá Lưỡi trâu; thời điểm cá xuất hiện là từ tháng 4 đến tháng 12 nhưng tập trung vào các tháng 8, tháng 9; đã có kết quả phân tích các chỉ tiêu về cá (chiều cao, chiều dài, khối lượng toàn thân, khối lượng bỏ nội tạng), môi trường (nhiệt độ, độ trong, pH, DO, TSS, COD, BOD, OM%, độ mặn); dựa theo hình thái đã xác định có 02 loài cá Lưỡi trâu được sử dụng để làm mắm là loài Cynoglossus lingua (chiếm khoảng 10% tổng số mẫu thu được) và loài Cynoglossus sp. (chiếm khoảng 90% tổng số mẫu thu được), riêng loài Cynoglossus sp. đang tiếp tục thu mẫu để chạy DNA định danh loài. Việc thực hiện các nội dung thử nghiệm sinh sản và nuôi thương phẩm chưa thực hiện được do cá Lưỡi trâu đều bị chết sau khoảng 3-4 ngày thu mẫu; nguyên nhân có thể là do thời gian thu mẫu cá tại lưới đáy là 3-4 giờ/lần làm ảnh hưởng đến sức khỏe của cá, mặt khác cá thu lên tại ghe không có dụng cụ sục khí oxy hỗ trợ nên cá yếu; để khắc phục tình trạng này hướng tới Nhóm thực hiện sẽ tăng tần suất thu mẫu cá tại lưới đáy, rút ngắn thời gian thu mẫu tại lưới đáy là 1-2 giờ/lần, chuẩn bị sẵn dụng cụ sục khí để hỗ trợ trong công tác vận chuyển cá vào bờ, tìm kiếm hộ dân tham gia để lưu giữ cá và triển khai các nội dung còn lại tại địa phương để hạn chế cá chết trong quá trình vận chuyển đường xa. 

Đoàn kiểm tra đã đi khảo sát thực địa, thu mẫu trực tiếp cùng Nhóm thực hiện đề tài tại 02/06 trạm thu mẫu cố định tại xã Hòa Chánh, huyện U Minh Thượng. Tại thời điểm kiểm tra các lưới đáy đóng trên sông không thu được cá Lưỡi trâu mà chỉ thu được một số loài như tép sông, cá chốt,…; Nhóm thực hiện đã tiến hành thu mẫu nước để phân tích các chỉ tiêu lý-hóa, động-thực vật phù du và mẫu bùn đáy theo đúng đề cương. Qua trao đổi, thảo luận với Nhóm thực hiện đề tài, Đoàn kiểm tra thống nhất các phương án để thu mẫu cá sống thực hiện các nội dung thử nghiệm sinh sản và nuôi thương phẩm như đề xuất nêu trên; đồng thời Đơn vị chủ trì và Chủ nhiệm đề tài cần có văn bản giải trình cụ thể các phương án thay đổi nội dung, phương pháp thực hiện, kinh phí thực hiện gửi về Sở KH&CN để xem xét./.

 

Ánh Nguyệt – PTP. Phòng QLKH
Thư viện ảnh
Hoạt động thể thao
Video
Web liên kết
Quảng cáo