Nghiệm thu đề tài: Sản xuất giống Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Kiên Giang A A

11/03/2019
Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) là loài giáp xác nước ngọt có kích thước lớn, giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, được thị trường ưa chuộng. Nghề nuôi tôm càng xanh trên thế giới đang trên đà phát triển mạnh đạt 750.000 - 1.000.000 tấn vào năm 2010. Ở nước ta, theo kế hoạch, đến năm 2020, chỉ riêng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ phát triển 35.150 ha, đạt 49.000 tấn (Cục Nuôi trồng thủy sản - Bộ NN-PTNT, 2009).

ThS. Ngô Văn Út - Chủ nhiệm đề tài (đứng) trình bày báo cáo chi tiết 

Theo đó, ĐBSCL là vùng nuôi tôm càng xanh trọng điểm của cả nước và đang phát triển nhanh trong nhiều năm qua. Sản lượng khai thác đạt khoảng 6.000 tấn/năm vào năm 1980, tuy nhiên sản lượng khai thác giảm xuống còn khoảng 3.000 - 4.000 tấn/năm trong những năm gần đây. Một trở ngại lớn trong nuôi thương phẩm tôm càng xanh là sự phân đàn khi nuôi chung tôm đực và tôm cái. Tôm đực thường lớn nhanh hơn tôm cái trong cùng đàn (Ra’nana và Cohen, 1984) làm ảnh hưởng đáng kể đến kích cỡ và sản lượng tôm thương phẩm (Sagi và Cohen, 1990; Sagi et al., 1990; Cohen et al., 1989; Nguyễn Việt Thắng, 1993). Những nỗ lực đầu tiên trong nuôi tôm càng xanh đơn tính đã được thực hiện trong qui mô thí nghiệm nhỏ ở hệ thống lồng bè nuôi thâm canh (Sagi et al., 1989) cho thấy kết quả rất khả quan. Sản lượng trung bình sau chu kỳ nuôi 150 ngày của quần đàn toàn đực là 473 g/m2, trong khi đó quần đàn toàn cái chỉ là 248 g/m2 và quần đàn hỗn hợp đực cái là 260 g/m2. Từ những yêu lý do trên, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Kiên Giang được Hội đồng Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tỉnh Kiên Giang chọn là đơn vị chủ trì thực hiện đề tài “Sản xuất giống tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực tại tỉnh Kiên Giang“ nhằm nâng cao năng suất để tạo ra sản phẩm hàng hóa, nâng cao thu nhập cho nông dân, góp phần phát triển nghề nuôi tôm càng xanh bền vững trong tương lai.

Sau thời gian nghiên cứu, Chiều ngày 27/02/2019 tại Phòng họp Sở KH&CN tỉnh Kiên Giang đã diễn ra cuộc họp Hội đồng KH&CN chuyên ngành cấp tỉnh đánh giá, nghiệm thu đề tài nêu trên.

Mục tiêu và nội dung chính của dự án là: Hoàn thiện quy trình sản xuất giống tôm càng xanh toàn đực nhằm chủ động cung cấp giống cho nghề nuôi tôm càng xanh thương phẩm góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại tỉnh Kiên Giang nói riêng và ĐBSCL nói chung.

Kết quả nghiên cứu của dự án: (i) Đã xây dựng và hoàn thiện quy trình nuôi vỗ tôm bố mẹ (con cái giả); (ii) Đã xây dựng và hoàn thiện quy trình nuôi vỗ tôm cái giả thành thục và quy trình sinh sản và ương nuôi ấu trùng lên giống postlarvae 15; (iii) Đã đào tạo dược 05 cán bộ kỹ thuật và 06 nông dân địa phương làm chủ quy trình và tự sản xuất được giống tôm càng xanh toàn đực…

TS. Nguyễn Xuân Niệm – Phó Chủ tịch Hội đồng (đứng) phát biểu kết luận cuộc họp

Tại buổi họp các thành viên Hội đồng đánh giá cao sự nỗ lực cố gắng của nhóm thực hiện đề tài. Thay mặt Hội đồng, TS. Nguyễn Xuân Niệm kết luận: Đề tài đã triển khai đầy đủ các nội dung nghiên cứu, đáp ứng được mục tiêu đề ra, có giá trị thực tiễn và khoa học và có khả năng ứng dụng cao trong thời gian tới. Tuy nhiên để báo cáo hoàn thiện hơn, Chủ nhiệm đề tài cần bổ sung, chỉnh sửa một số nội dung như: Hình thức: Rà soát lỗi đánh máy, chính tả, các từ khóa/key words nên xếp theo ABC, bổ sung đầy đủ các từ viết tắt vào danh sách từ viết tắt; trang tóm tắt viết khá dài, cần cô đọng lại; cần lặp lại tiêu đề cho các Bảng khi sang trang, bổ sung nguồn trích dẫn và thời gian tạo bảng, tạo hình; bổ sung mục tiêu chung của đề tài vào báo cáo tổng kết; rà soát, thống nhất lại tất cả số liệu sử dụng trong báo cáo …Tổng quan tài liệu: Bố cục lại phần tổng quan theo các mục tiêu nghiên cứu của đề tài; cần trình bày những tồn tại, khó khăn về sản xuất giống và nuôi thương phẩm tôm càng xanh toàn đực và bổ sung tổng quan tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Kiên Giang hiện nay. Phương pháp nghiên cứu: Cần làm rõ các phương pháp đã thực hiện nghiên cứu, bổ sung các phương pháp còn thiếu vào báo cáo, trong từng phương pháp cần trình bày rõ cách thức thực hiện; bổ sung mật độ nuôi vỗ, tỷ lệ con đực và cái, thời gian giữa các lần kiểm tra tỷ lệ thành thục, thời gian đẻ của con cái giữa các đợt; bổ sung cách cho ăn thức ăn công nghiệp và thức ăn tươi sống trong nuôi vỗ... Phương tiện nghiên cứu: Cần trình bày rõ các loại thiết bị và dụng cụ thí nghiệm nào đơn vị chủ trì có sẵn, loại nào Nhóm nghiên cứu đã mua mới để sử dụng;… Kết quả và thảo luận: Bổ sung và phân tích những thuận lợi, khó khăn của các quy trình sản xuất giống tôm càng xanh hiện nay từ đó chọn ra quy trình tối ưu để hoàn thiện và áp dụng triển khai thực hiện; bổ sung công thức xác định tỷ lệ nở, cần nêu rõ cách thu và tính tỷ lệ sống của ấu trùng; cần thảo luận đánh giá chất lượng tôm giống thông qua kết quả nuôi so với các nghiên cứu khác; bổ sung tỷ lệ kỹ thuật viên áp dụng triển khai sản xuất giống tôm càng xanh toàn đực so với số lượng được đào tạo… Kết luận: Cần viết gọn lại, nêu thêm một số chi tiết của kết quả nghiên cứu vào phần kết luận, hành văn lại cho phù hợp theo hướng khẳng định. Kiến nghị: Cần nêu được những đề nghị giải quyết những nội dung và mục tiêu chưa là được, đồng thời khuyến cáo áp dụng những nội dung đã thực hiện tốt của đề tài. Tài liệu tham khảo: Rà soát và bổ sung một số văn bản chỉ đạo của tỉnh vào danh mục tài liệu tham khảo và các trích dẫn tài liệu trong báo cáo.

Hội đồng đánh giá kết quả nghiên cứu tương đối tốt, với kết quả xếp loại C (Trung bình) và thống nhất cho nghiệm thu đề tài./.

Tạ Băng Hồ – Phòng QLKH
Thư viện ảnh
Hoạt động thể thao
Video
Web liên kết
Quảng cáo