SỞ HỮU TRÍ TUỆ NÂNG CAO GIÁ TRỊ SẢN VẬT, SẢN PHẨM BIỂN KIÊN GIANG A A

14/12/2015

1. Đặt vấn đề.

Kiên Giang nằm ở phía Tây Nam của tổ quốc, có tiềm năng phát triển kinh tế biển vào loại nhóm cao với điều kiện tự nhiên ban cho: ngư trường rộng lớn 63.290 km2, bờ biển dài khoảng 200 km với trên 140 đảo lớn nhỏ, bao gồm 05 quần đảo (An Thới, Bà Lụa, Hải Tặc, Nam Du và Thổ Châu), trong đó có hơn 40 hòn đảo có cư dân sinh sống, đặc biệt là hòn đảo Phú Quốc – mệnh danh Đảo ngọc, 573 km2, tương đương đảo quốc Singapore. Trong 15 đơn vị hành chính cấp huyện có 2 huyện đảo (Phú Quốc và Kiên Hải) và 7 huyện ven biển (Hà Tiên, Kiên Lương, Hòn Đất, Rạch Giá, Châu Thành, An Biên, An Minh) với 51/145 xã, phường có biển, tạo ra một một vùng nuôi trồng, chế biến thủy sản.

Kiên Giang có sản vật, sản phẩm biển đa dạng và phong phú, trong đó có đặc sản nước mắm Phú Quốc được chế biến từ 02 loài cá Cơm là Spratelloides gracilis Stolephorus indicus làm nguyên liệu chính. Bên cạnh, nước mắm Phú Quốc, những sản vật, sản phẩm biển khác của địa phương trong tỉnh cũng nức tiếng trong vùng nhưng sản vật, sản phẩm của chúng vẫn không vượt qua  được ranh giới của địa bàn. Một mặt, hầu hết những sản vật, sản phẩm này không có nhãn hiệu bảo hộ nên bị giới hạn trong marketing, tiếp thị, khuyến mãi,… Vả lại, những hàng hóa có giấy chứng nhận bảo hộ thì lại bị làm hàng giả, hàng nhái nên những sản vật, sản phẩm chưa có cơ hội phát triển.

Luật Sở hữu trí tuệ (2005) là một trong những cơ sở để Việt Nam, nước thứ 150 được xét gia nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ngày 11/01/2007. Sở hữu trí tuệ (SHTT) là một loại tài sản vô hình được tạo nên bởi trí tuệ của con người và được pháp luật bảo hộ.

Được sự chỉ đạo, quan tâm hỗ trợ và giúp đỡ của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh, thông qua sự tham mưu của Sở KH&CN, Kiên Giang đã đạt được gì trong “Bảo vệ và phát triển sản vật, sản phẩm biển Kiên Giang thân thiện môi trường”.

2. Thực trạng của vấn đề

Hiện nay, nhiều tỉnh trên toàn quốc, thương hiệu địa phương đang phổ biến và mang lại những lợi thế cạnh tranh vượt trội và bền vững hơn so với các địa phương, tỉnh thụ động khác. Với tư duy mới, chính quyền phục vụ người dân, doanh nghiệp và xem bản thân địa phương mình cũng là một thương hiệu. Thương hiệu địa phương không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho chính quyền, mà còn tạo ra những hiệu ứng tốt về hiệu quả đầu tư và thị trường từ bên ngoài, kích thích những nội lực bên trong, góp phần làm thăng hoa các giá trị bản sắc và mang lại những lợi ích bền vững trong phát triển của địa phương. Cách thức mà các địa phương nỗ lực tạo dựng và quảng bá được những đặc tính khác biệt của mình chính là yếu tố quyết định sự thành công hay bị tụt hậu trong cuộc đua nâng cao thu nhập cá nhân và tăng GDP của tỉnh.

Khác với các tỉnh trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Kiên Giang là tỉnh đồng bằng, nhưng lại có rừng núi, hải đảo, biển cả,... Chính đặc trưng đó đã mang lại cho Kiên Giang nguồn tài nguyên đa dạng. Đây chính là lợi thế so sánh của Kiên Giang so với các tỉnh trong vùng. Tận dụng lợi thế địa phương đến nay tỉnh Kiên Giang đã đăng ký và được bảo hộ tuy kết quả hoạt động SHTT này, nhìn chung vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của tỉnh.

3. Mục tiêu.

- Giúp các doanh nghiệp, ngành, địa phương trong tỉnh nâng cao nhận thức về bảo hộ quyền SHTT để chủ động xây dựng, khai thác, phát triển và bảo vệ tài sản trí tuệ (TSTT) của mình.

            - Hỗ trợ các tổ chức, cá nhân có khả năng tạo ra các sản vật, sản phẩm biển có giá trị và đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền bảo hộ, khai thác và phát triển TSTT, ưu tiên cho một số sản phẩm chủ lực, đặc thù của vùng biển nhằm khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và nâng cao giá trị của sản phẩm hàng hoá/dịch vụ của tỉnh.

            - Nâng cao giá trị hàng hóa đặc sản địa phương, trong đó có sản vật, sản phẩm biển Kiên Giang thông qua bảo hộ quyền SHTT.

  

Kỷ lục Việt Nam chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nước mắm / Nhãn hiệu chứng nhận Khu DTSQ

 

4. Kết quả; hạn chế và nguyên nhân.

(i) Kết quả.

- Đã hướng dẫn các tổ chức/cá nhân và doanh nghiệp các thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp (SHCN), đã có trên 1.200 đơn đăng ký, đến nay có 920 cấp văn bằng bảo hộ quyền SHCN (bao gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hóa), trong đó trên 25% sản vật, sản phẩm biển.

- Hỗ trợ kinh phí cho trên 50 tổ chức/cá nhân xác lập quyền SHCN (bao gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận) với mức hỗ trợ 70% kinh phí, trong đó trên 20 tổ chức/cá nhân xác lập quyền SHCN cho sản vật, sản phẩm biển.

- Xây dựng 18 NHTT với mức hỗ trợ 100% kinh phí  cho các đặc sản, nông thủy sản trong tỉnh đã được Cục SHTT cấp Giấy chứng nhận 12 NHTT, trong đó có 03 NHTT: Mắm cá lưỡi trâu U Minh Thượng, Vọp U Minh Thượng, và Tiêu Phú Quốc là sản vật, sản phẩm biển. Trong 06 NHTT đã được Cục SHTT chấp nhận đơn thì có 02 sản vật, sản phẩm biển, đó là Sò huyết An Biên-An Minh và Rượu Sim Phú Quốc.

- Nhãn hiệu chứng nhận Khu Dự trữ Sinh quyển Kiên Giang đã được cấp Giấy chứng nhận, gồm các nhóm sản phẩm/dịch vụ: thuộc các nhóm (18, 29, 30, 33, 39, 41, 43) trong đó có nước mắm, tôm khô, mực khô, cua biển và ghẹ biển, hồ tiêu, rượu sim;... Dịch vụ vận chuyển hành khách biển (xe, tàu, thuyền du lịch), hướng dẫn tham quan du lịch, khách sạn, nhà hàng ăn uống vùng ven biển.

- Xây dựng thành công Dự án Quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý Phú Quốc cho sản phẩm nước mắm, nghiệm thu năm 2011. Kết quả đã thiết kế Logo và đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng; phối hợp tổ chức nhiều cuộc hội thảo góp ý cho việc quản lý, phát triển chỉ dẫn địa lý nước mắm Phú Quốc trong đó đề nghị các doanh nghiệp sản xuất, chế biến nước mắm đủ điều kiện nên dán nhãn, tem chỉ dẫn địa lý khi đưa sản phẩm ra thị trường; đã cấp Giấy chứng nhận quyền chỉ dẫn địa lý nước mắm Phú Quốc cho trên 75 doanh nghiệp sản xuất nước mắm tại Phú Quốc; phối hợp cùng các ngành hữu quan hỗ trợ đăng bạ nước mắm Phú Quốc sang Châu Âu và được Ủy ban châu Âu (EC) ký quyết định cấp quy chế bảo hộ tại Liên minh châu Âu (EU) ngày 08/10/2012. 

- Dự án tuyên truyền về SHTT trên Đài Phát thanh và Truyền hình, được Bộ KH&CN thẩm định và UBND tỉnh phê duyệt thực hiện từ tháng 7/2012, Đài PT&TH Kiên Giang thực hiện. Chương trình này được phát trên Đài PT&TH và đưa trên Website của Sở KH&CN tỉnh (http://khoahoc.kiengiang.gov.vn). Dự án  triển khai giai đoạn 1 (từ tháng 7/2012 đến tháng 6/2013) phát sóng được 24 kỳ và 04 cuộc đối thoại trực tiếp, mỗi kỳ phát sóng đều có sự tham gia của 2-3 doanh nghiệp, đại điện cơ quan quản lý nhà nước (Sở KH&CN; Sở Công thương; Trung tâm Xúc tiến Đầu tư Thương mại và Du lịch; Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng tỉnh; Chi cục Quản lý Thị trường; Thanh tra nhà nước Tỉnh;...). Hiện đang triển khai giai đoạn 2 (2014-2015), phát sóng được 02 kỳ/tháng và 01 cuộc đối thoại trực tiếp/quý với sự tham gia của doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước.

- Sau khi hỗ trợ xây dựng NHTT, Sở KH&CN đã tham mưu UBND tỉnh ban hành quyết định danh mục các đề tài, dự án cấp tỉnh và các dự án bảo tồn gen làm nguyên liệu cho sản xuất sản vật, sản phẩm biển như Nghiên cứu xây dựng Mô hình Tiêu Phú Quốc đạt tiêu chuẩn GlobalGAP; Mô hình Du lịch sinh thái vườn Tiêu Phú Quốc; trong đó thông qua các đề cương triển khai năm 2016 như sinh sản nhân tạo và xây dựng mô hình nuôi thương phẩm Sò huyết An Biên- An Minh; Vọp U Minh Thượng; Cá lưỡi trâu; Ghẹ xanh; Nhum;… Bảo tồn và nâng cao chất lượng Tiêu Hà Tiên và Tiêu Phú Quốc. Nghiên cứu các giải pháp để nâng cao chất lượng nước mắm mang chỉ dẫn địa lý Phú Quốc (giảm Histamine, Arsen và kéo dài thời gian lóng cặn). Đặc biệt Nghiên cứu thám sát bảo tồn phát huy các tàu đắm cổ vùng biển Kiên Giang  phục vụ Du lịch.

(ii) Hạn chế và nguyên nhân.

 - Tuy nhiên, hoạt động về SHTT nói chung và hoạt động tuyên truyền phổ biến kiến thức về SHTT nói riêng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong thời gian qua chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Nhiều sản phẩm đã lưu thông trên thị trường nhưng chưa đăng ký bảo hộ quyền SHTT, hoặc đã được bảo hộ nhưng chưa khai thác, sử dụng hợp lý nên chưa được người tiêu dùng biết đến một cách rộng rãi, hoặc đã xuất khẩu hàng hoá nhưng chưa đăng ký bảo hộ ở nước ngoài,...

- Công tác tuyên truyền về tầm quan trọng của việc đăng ký bảo hộ quyền SHTT đối với các sản phẩm hàng hoá/dịch vụ cho doanh nghiệp tuy có thực hiện nhưng còn hạn chế về hình thức và nội dung. Các doanh nghiệp cũng như địa phương có sản phẩm đặc sản chưa nhận thức đầy đủ vai trò, tầm quan trọng và lợi ích của việc bảo hộ quyền SHTT trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên chưa có nhu cầu xin hỗ trợ.

- Một số sản phẩm, hàng hoá nông, thủy sản chế biến đã được bảo hộ (kể cả nước mắm Phú Quốc) nhưng khâu quảng bá, tiếp thị giới thiệu sản phẩm còn yếu - nên người tiêu dùng không nhận biết được sự có mặt của sản phẩm tỉnh ta trên thị trường.

 - Ngoài ra, tỉnh Kiên Giang có nhiều tiềm năng và điều kiện lợi thế để phát triển du lịch so với các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long do có nhiều thắng cảnh và địa danh di tích lịch sử nổi tiếng ở Kiên Lương, Hà Tiên, đảo Phú Quốc... Nhưng sản phẩm dịch vụ du lịch biển cũng chưa được các doanh nghiệp và địa phương quan tâm đăng ký bảo hộ nhãn hiệu dịch vụ của mình, đồng thời cũng chưa chú ý đến việc xây dựng, khuếch trương, quảng bá thương hiệu một cách bài bản nhằm thu hút khách tham quan du lịch trong và ngoài nước.

- Các nội dung được chi hỗ trợ từ đề án SHTT chủ yếu là hoạt động chuyên môn phục vụ công tác xác lập, quản lý và phát triển đối tượng SHTT, trong khi để phát triển TSTT còn rất nhiều hạng mục và các công việc khác cần hỗ trợ như các hoạt động hỗ trợ xúc tiến thương mại cho các TSTT… thì vẫn chưa được thực hiện.

5. Phương hướng thời gian tới

Dựa trên những tiềm năng, lợi thế của địa phương cùng thực hiện Quyết định 68/2005/QĐ-TTg ngày 04/5/2005 của Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển TSTT của doanh nghiệp, Sở KH&CN đã xây dựng đề án “Phát triển tài sản trí tuệ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2006-2010 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang phê duyệt bằng Quyết định 810/QĐ-UBND ngày 11/5/2007. Các phương hướng trong thời gian tới như sau:

- Biên soạn và in ấn phát hành các tài liệu hướng dẫn cho doanh nghiệp. Tổ chức tuyên truyền, đưa các thông tin về lĩnh vực SHTT và các thông tin liên quan đến các doanh nghiệp thông qua các phương tiện thông tin như: Báo, Đài Phát thanh và Truyền hình, Website Kiên Giang. Tập huấn nâng cao nhận thức và nghiệp vụ quản lý cho các nhà doanh nghiệp thông qua các lớp chuyên đề về SHTT. Phối hợp với các đơn vị tổ chức đào tạo nghiệp vụ quản lý và phát triển thương hiệu cho các doanh nghiệp, nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

- Hỗ trợ đăng ký bảo hộ và phát triển quyền SHCN, bao gồm: Sáng chế; Giải pháp hữu ích; Kiểu dáng công nghiệp, Nhãn hiệu hàng hóa; Nhãn hiệu tập thể; Nhãn hiệu chứng nhận. Nhãn hiệu tập thể; Nhãn hiệu chứng nhận: Sở KH&CN hỗ trợ 100% kinh phí. Nhãn hiệu hàng hóa thông thường: Sở KH&CN hỗ trợ 70% kinh phí. Hỗ trợ triển khai các hoạt động thương mại hoá các sản phẩm được bảo hộ SHTT, ưu tiên hỗ trợ phát triển thương mại hoá các đặc sản địa phương được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể. Phương hướng, mỗi xã NTM vùng biển đều có NHTT từ sản phẩm biển.

- Hỗ trợ tham gia Hội chợ và khai thác thông tin và quản lý phát triển TSTT: Hỗ trợ cho các doanh nghiệp tham gia các Hội chợ triển lãm cấp khu vực và toàn quốc để quảng bá, khuếch trương uy tín và góp phần xây dựng thương hiệu. Khai thác thông tin SHTT phục vụ các hoạt động nghiên cứu, triển khai, sản xuất và kinh doanh. Quản lý và phát triển TSTT, ưu tiên các đặc sản địa phương, sản phẩm chủ lực, có tiềm năng xuất khẩu của tỉnh, đặc biệt là sản vật, sản phẩm biển.

- Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững. Kiểm soát việc khai thác hải sản, nhất là ở vùng triều và khu vực ven bờ. Cần có quy định số lượng tàu thuyền, loại nghề và sản lượng khai thác tối đa cho từng khu vực, bảo vệ và phát triển nguồn lợi. Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn ven biển. Bảo vệ nghiêm ngặt các vườn Quốc gia hiện có, xây dựng một số khu bảo tồn khác để bảo vệ và khôi phục các hệ sinh thái ven biển. Kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân hóa học trong nuôi trồng thủy sản để hạn chế ô nhiễm. Tăng cường công tác bảo vệ môi trường đô thị và khu công nghiệp. Nhanh chóng di dời các công trình, xí nghiệp gây ô nhiễm nặng ra khỏi khu vực gần bờ biển. Thực hiện tốt công tác quản lý tổng hợp, thống nhất về biển và hải đảo trên địa bàn tỉnh. Quản lý chặt chẽ việc xả thải trên biển, tăng cường công tác phòng chống xói lở vùng ven biển… Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đê biển.

- Hợp tác với các nước trong khu vực trong việc tuần tra bảo vệ vùng biển, bảo vệ ngư dân khai thác thủy sản trên vùng biển. Đẩy mạnh hợp tác với các nước quanh Vịnh Thái Lan; khai thác, quản lý, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi hải sản, nhất là nguồn lợi ở các vùng biển khơi và nuôi trồng hải đặc sản trên biển. Tăng cường hợp tác với bên ngoài, phát triển Khu du lịch sinh thái cao cấp đảo Phú Quốc nhằm tạo chất lượng cao trong khu vực Đông Nam Á. Đẩy mạnh hợp tác với các nước quanh Vịnh Thái Lan trong việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và phát triển du lịch. Đẩy mạnh các lĩnh vực hợp tác khác như quản lý và bảo vệ môi trường biển; cảnh báo thiên tai; bảo đảm an toàn, an ninh trên biển,…

- Huy động nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế-xã hội vùng biển, ven biển, hải đảo đến năm 2015. Để đảm bảo đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế trong vùng bằng việc đầu tư xây dựng sân bay Rạch Giá và Phú Quốc, đường điện cáp ngầm Phú Quốc và kéo điện lưới quốc gia ra các đảo Kiên Hải; xây dựng hồ và hệ thống cấp nước,… Nguồn vốn đầu tư chủ yếu là vốn của các nhà đầu tư ngoài tỉnh, đầu tư các dự án trong khu cụm công nghiệp, dự án du lịch, thương mại… tại các vùng biển Hà Tiên, Phú Quốc, Kiên Lương, Rạch Giá…

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội vùng ven biển, hải đảo. Trước hết, tăng cường đào tạo nghề cho lực lượng lao động phổ thông, đặc biệt cho nhu cầu của các doanh nghiệp sản xuất có nguyên vật liệu từ biển và thân thiện môi trường... Chú trọng đào tạo các ngành nghề có tiềm năng, thế mạnh của vùng biển hải đảo đón đầu cho các khu công nghiệp, khu du lịch sắp hình thành trên địa bàn.  

6. Kết luận và kiến nghị.

(i) Kết luận.

- Sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô hình được tạo nên bởi trí tuệ của con người và được pháp luật bảo hộ. Tài sản vô hình này, chủ nhân của nó đã tiêu tốn rất nhiều nhân lực, vật lực mà có được. Tuy nhiên, nhiều tài sản vô hình này đang có xu hướng bị chiếm đoạt hay bị làm hàng giả, hàng nhái ngày càng tinh vi.

- Sự quan tâm chỉ đạo của Bộ KH&CN, Tỉnh ủy và UBND tỉnh, thông qua tham mưu Sở KH&CN bằng việc triển khai các đề án, dự án đã đạt được những kết quả hết sức khả quan, đã nâng cao giá trị hàng hóa, trong đó có sản vật, sản phẩm biển.

- Hoạt động thông tin tuyên truyền về lĩnh vực SHTT được đẩy mạnh trên các phương tiện thông tin đại chúng thì sẽ tạo được sự quan tâm của doanh nghiệp, các cơ quan quản lý và người dân sẽ đẩy mạnh việc đăng ký xác lập quyền SHTT các doanh nghiệp, nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, từ đó định hướng người tiêu dùng sử dụng sản phẩm, hàng hóa bảo đảm chất lượng.

- Việc đấu tranh ngăn chặn, xử lý các vi phạm về quyền SHTT được các đơn vị trong tỉnh quan tâm thực hiện sẽ góp phần hạn chế vi phạm quyền SHTT trong thời gian tới.

(ii) Kiến nghị.

- Bên cạnh việc Sở KH&CN tỉnh hỗ trợ xây dựng NHTT (Công tác chuyên môn) mà chúng ta đã làm từ những năm trước (trong đó có hỗ trợ 70% kinh phí NHHH thông thường; hỗ trợ 100% kinh phí NHTT). Đề nghị tăng cường hỗ trợ Quản lý, sử dụng và phát triển NHTT (bằng hình thức Hội thảo lấy ý kiến), cái chúng ta đang làm. Cùng tăng cường hỗ trợ Nâng cao năng suất, chất lượng hàng hóa NHTT (bằng hình thức triển khai các Dự án) trong thời gian tới. Muốn có hiệu quả công tác này: điều đầu tiên là làm thế nào Nâng cao nhận thức cho người dân; Nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ tỉnh cũng như cấp huyện về SHTT; chủ động xây dựng; khai thác phát triển và bảo vệ TSTT; đồng thởi ngăn chặn những hành vi vi phạm, sử dụng trái phép đối với sản phẩm đã được bảo hộ Sở hữu công nghiệp; Góp phần gia tăng giá trị kinh tế của sản vật, sản phẩm biển nói riêng và hàng hóa, dịch vụ, mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng thu nhập cho người sản xuất kinh doanh, nói chung. Đây là một trong những bước để tiến sâu gia nhập vào Thị trường thương mại thế giới WTO. Đặc biệt chúng ta vững bước khi tham gia thị trường chung ASEAN trong vài năm tới.

- Bộ KH&CN cần điều chỉnh, bổ sung Quyết định 4015/QĐ-BKHCN ngày 30/12/2011 về hỗ trợ kinh phí cho việc đăng ký bảo hộ địa danh dùng cho đặc sản tại nước ngoài nâng mức hỗ trợ từ 50-70% trên tổng chi phí.

- Các huyện, thị, thành phố cần xây dựng hoàn thiện quy chế quản lý, đẩy mạnh đăng ký NHTT, đặc biệt cho sản vật, sản phẩm biển. Đồng thời rà soát, đánh giá, tổng hợp thành danh mục các NHTT để có đề xuất Sở KH&CN hỗ trợ theo thứ tự ưu tiên, trong đó ưu tiên cao cho mỗi xã NTM vùng biển đều có NHTT từ sản phẩm biển.

- Trên cơ sở danh mục sản vật biển của Chương trình này, Sở Công Thương (chủ trì) phối hợp với Sở KH&CN và cùng các địa phương tạo ra nhiều sản phẩm biển phục vụ phát triển KT-XH tỉnh Kiên Giang./.

Tài liệu tham khảo:

Nguyễn Xuân Niệm và Huỳnh Chánh Khoa (2014). Nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế biển Kiên Giang, năm 2015. 14 trang. Trong: Kỷ yếu “Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế biển tỉnh Kiên Giang”. Tổ chức tại UBND tỉnh Kiên Giang, năm 2015.

Sở KH&CN Kiên Giang (2011). Báo cáo kết quả đề án “Phát triển tài sản trí tuệ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2006-2010”, năm 2011. 13 trang.

Trần Thị Thu Thủy (2013). Dự án tuyên truyền về SHTT trên Đài Phát thanh và Truyền hình  tỉnh Kiên Giang. Dự án KH&CN cấp tỉnh Kiên Giang. Năm 2013. 78 trang.

 

TS. Nguyễn Xuân Niệm

(PGĐ Sở Khoa học và Công nghệ Kiên Giang)

 

Admin
Thư viện ảnh
Hoạt động thể thao
Video
Web liên kết
Quảng cáo