TS. Nguyễn Xuân Niệm (Phó GĐ Sở KH&CN) trả lời phỏng vấn với phóng viên Huy Hải (Báo TTXVN) về vấn đề Arsen trong nước mắm A A

20/10/2016

1. Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VINASTAS) công bố kết quả khảo sát nước mắm trên toàn quốc, với 101/150 mẫu nước mắm khảo sát không đạt quy định của quy chuẩn Việt Nam 8-2:2011/BYT, trong đó hơn 95% mẫu nước mắm độ đạm cao vượt ngưỡng hàm lượng thạch tín hữu cơ. Xin TS. Nguyễn Xuân Niệm có ý kiến về vấn đề này như thế nào ?

Trả lời:

Trước nhất cần phải nắm rõ điều này: Hiện nay, chất lượng nước mắm của Việt Nam chúng ta đang được kiểm soát theo TCVN 5107:2003. Tiêu chuẩn này không quy định riêng cho hàm lượng Arsen – thạch tín. Vậy thì làm gì có ngưỡng mà so sánh để biết vượt hay không vượt.

Còn QCVN 8-2:2011/BYT mà Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VINASTAS) thì có giá trị trên nước chấm chứ không phải nước mắm. Hai loại này hoàn toàn khác nhau. Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VINASTAS) có sự nhầm lẫn ở đây. Đây là mấu chốt của vấn đề. Hơn nữa, Arsen được quy định trong QCVN 8-2:2011/BYT đối với nước chấm 1,0 mg/l là chưa rõ là Arsen tổng hay Arsen vô cơ hay Arsen hữu cơ. Vì vậy Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VINASTAS) cho rằng mẫu nước mắm có hàm lượng thạch tín hữu cơ cao vượt ngưỡng là chưa có cơ sở.

Cũng cần lưu ý, muốn lấy mẫu chuẩn đem phân tích để có giá trị pháp lý, thì chuyên viên đó phải có Chứng chỉ lấy mẫu mà Bộ Y tế đã quy định (Lấy bao nhiêu mẫu; Lấy khi nào; Mẫu lưu ra sao; Đặc biệt gửi nơi phân tích phải đúng chuẩn như Trung tâm Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 3, địa chỉ 64 Lê Hồng Phong, Phường 2, Quận 5, TP.Hồ Chí Minh). Nếu không, kết quả công bố không có giá trị pháp lý. Nếu không cẩn thận sẽ gây ra hiệu quả ngược (Side Effect) mặc dù chỉ là cảnh báo, mà đôi khi còn gây ra hậu quả nghiêm trọng dẫn đến gây ảnh hưởng tâm lý người tiêu dùng, gây cản trở sự sản xuất.

Có điều là trong quy định trong QCVN 8-2:2011/BYT cho phép lượng ăn vào hàng tuần có thể chấp nhận được tạm thời là 0,015 (mg Arsen vô cơ/kg thể trọng), mà trong nước mắm sản xuất theo truyền thống như nước mắm Phú Quốc (Nhãn hiệu chỉ dẫn địa lý, nổi tiếng toàn cầu, được Cộng đồng Châu Âu chấp nhận) thì Arsen chiếm phần lớn là Arsen hữu cơ. Arsen hữu cơ có mặt ở nhiều loại động vật biển. Theo kết quả nghiên cứu của Walter Goessler và cộng sự tại Đại học Karl-Franzens (Áo) đăng tải trên tạp chí Food Chemistry năm 2009, hàm lượng Arsen tổng trong 6 loại nước mắm ở Việt Nam và Thái Lan nằm trong khoảng 0,69 - 2,75 mg/l. Hầu hết các dạng Arsen trong nước mắm đều là Arsen hữu cơ gần như không độc hoặc có độc tính rất thấp gồm: Arsenobetaine (82-94%), Arsenocholine (4,9-7,7%), Trimethyl Arsine oxide (0,7-7,8%) và Trimethyl Arsenopropionate (0,5-2,1%). Người ăn hải sản đào thải Arsen hữu cơ ra ngoài cơ thể qua đường nước tiểu sau 2 - 3 ngày mà không ảnh hưởng đến sức khỏe. Arsen hữu cơ thường có độc tính rất thấp và một số dạng hoàn toàn không có độc tính, tuy nhiên ở hàm lượng cao, Arsen hữu cơ vẫn có thể gây ra những tác động nhất định đến sức khỏe con người. Hơn nữa nước mắm chỉ là gia vị, lượng chúng ta ăn hàng ngày không đáng kể. Vì vậy, theo tôi, bà con không vì thông tin sai lệch mà có tâm lý‎ hoang mang.

 

Bà Nguyễn Thị Tịnh, Nguyên Chủ tịch Hiệp Hội sản xuất nước mắm Phú Quốc chia sẻ cùng các đại biểu kinh nghiệm về bảo hộ chỉ dẫn địa lý nước mắm Phú Quốc tại Hội thảo “Chỉ dẫn địa lý và những cam kết trong khuôn khổ hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam - Liên minh Châu Âu” ngày 01/7/2016 tại thành phố Hồ Chí Minh

 

2. Công bố vấn đề này sẽ ảnh hưởng, tác động ra sao đến sản xuất nước mắm ở Kiên Giang, nhất là nước mắm Phú Quốc ?

Trả lời:

Như tôi đã nói trên, Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VINASTAS) công bố kết quả chưa dựa đủ cơ sở khoa học và pháp lý: (i) Sai đối tượng so sánh: lấy quy chuẩn nước chấm so cho nước mắm. Hàm lượng Arsen trong QCVN 8-2:2011/BYT chưa nói loại gì cho rõ, lại cho rằng Arsen hữu cơ. Đặc biệt trong TCVN 5107:2003 thì trong tiêu chuẩn này không quy định ngưỡng riêng cho hàm lượng Arsen – thạch tín mà chỉ nói kim loại nặng chung. Vậy thì làm gì có ngưỡng mà so sánh để biết vượt hay không vượt. Sự sai lầm này chắc chắn gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nước mắm nói chung của Việt Nam, trong đó có nghề sản xuất nước mắm truyền thống nước mắm Phú Quốc từ hơn 100 năm nay. Những ngày gần đây Chủ tịch Hiệp hội sản xuất nước mắm Phú Quốc có liên lạc với chúng tôi trình bày vấn đề này. Chúng tôi đang lập kế hoạch về chuyên môn và truyền thông để thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

3. Nước mắm Phú Quốc sản xuất theo cách truyền thống và đã vào được thị trường Châu Âu, Như vậy so với công bố của VINASTAS thì Kiên Giang có động thái gì, giải pháp ra sao để bảo vệ thương hiệu cũng như chất lượng nước mắm Phú Quốc.

Trả lời:

Cũng như tôi đã nói trên, Sở KH&CN Kiên Giang đang lập kế hoạch cử chuyên viên (Có Chứng chỉ về lấy mẫu) ra Phú Quốc để lấy mẫu chuẩn nước mắm và gửi phân tích tại Trung tâm Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 3 (Địa chỉ 64 Lê Hồng Phong, Phường 2, Quận 5, TP. Hồ Chí Minh). Tuy nhiên có vấn đề đang khó là hiện nay chưa có văn bản pháp lý về quy chuẩn hay tiêu chuẩn quốc gia làm căn cứ để đối chiếu đánh giá Arsen cho nước mắm nên việc công bố cũng khó. Mặc dầu vậy, chúng tôi cũng sẽ tổ chức sớm tọa đàm với các tổ chức, cá nhân liên quan trong đó có Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng; Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng tỉnh Kiên Giang; Hiệp hội sản xuất nước mắm Phú Quốc; Sở Y tế;… trên sóng Phát thanh – Truyền hình để làm rõ vấn đề này nhằm đưa thông tin đúng sự thật trấn an dư luận. Ngoài ra, đây cũng là dịp chúng tôi xem xét lại quy trình sản xuất và quản lý chất lượng từ đầu vào đến đầu ra của sản xuất nước mắm để thương hiệu Việt nước mắm Phú Quốc luôn được người sử dụng trong và ngoài nước tin dùng./.

TS. Nguyễn Xuân Niệm

(PGĐ Sở KH&CN Kiên Giang)

Admin
Thư viện ảnh
Hoạt động thể thao
Video
Web liên kết
Quảng cáo