Cổng thông tin điện tử Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Kiên Giang

Các tin khác

Xem với cỡ chữAA

Các thành tựu và bài học kinh nghiệm nổi bật Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang

(08:45 | 08/12/2020)

1. Quá trình được công nhận và phát triển của Khu DTSQ Kiên Giang.

- Kiên Giang là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở tận cùng phía Tây Nam nước Việt Nam, có diện tích tự nhiên 6.348,50 km2, với hơn 200 km bờ biển và trên 56 km đường biên giới đất liền với Campuchia. Như là một Việt Nam thu nhỏ, được thiên nhiên ưu đãi, phú cho tỉnh Kiên Giang có đủ cả: hệ thống sông ngòi, núi rừng, đồng bằng và biển cả với trên 140 hòn đảo nổi lớn nhỏ. Khu Dự trữ sinh quyển (DTSQ) Thế giới Kiên Giang đã được UNESCO công nhận ngày 27/10/2006 tại kỳ họp thứ 19 của Hội đồng Điều phối quốc tế Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB).

- BQL Khu DTSQ Kiên Giang được thành lập theo Quyết định số 811/QĐ-UB ngày 30/3/2010 của UBND tỉnh Kiên Giang và Quyết định số 2245/QĐ-UBND ngày 22/9/2020 của UBND tỉnh Kiên Giang về việc kiện toàn BQL do một Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban và các thành viên là lãnh đạo các sở, ban, ngành và địa phương có liên quan trong tỉnh.

- UBND tỉnh Kiên Giang đã ban hành Quy chế hoạt động và quản lý Khu DTSQ Kiên Giang theo Quyết định số 2519/QĐ-UBND ngày 02/12/2014.

- Thực hiện Công văn số 10/MABVN ngày 28/9/2015 của Uỷ ban Quốc gia Con người và Sinh quyển (MAB) Việt Nam về việc báo cáo đánh giá định kỳ 10 năm Khu DTSQ Kiên Giang, thường trực BQL Khu DTSQ Kiên Giang đã tham mưu trình UBND tỉnh Kiên Giang ban hành Kế hoạch số 122/KH-UBND ngày 10/12/2015 về việc tổ chức xây dựng báo cáo đánh giá định kỳ 10 năm và Quyết định số 511/QĐ-UBND ngày 09/3/2016 về việc thành lập Nhóm kỹ thuật xây dựng báo cáo đánh giá định kỳ 10 năm Khu DTSQ Kiên Giang theo yêu cầu của UNESCO.

- Năm 2017, sự kiện Khu DTSQ Kiên Giang được Ban Cố vấn Hội đồng Điều phối quốc tế Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB ICC) của UNESCO xem xét và đánh giá cao về việc nộp báo cáo đánh giá định kỳ 10 năm (đánh giá lần đầu tiên) với chất lượng rất tốt và đã đáp ứng các tiêu chí Khung pháp lý của Mạng lưới các Khu DTSQ Thế giới. Điều này có ý nghĩa rất lớn về kinh tế - xã hội và chính trị của tỉnh, đây còn là dịp để giới thiệu, quảng bá và nâng tầm các giá trị của Khu DTSQ Kiên Giang đến cộng đồng trong nước và quốc tế.

2. Các thành tựu và bài học kinh nghiệm nổi bậc Khu DTSQ KG

a. Các thành tựu nổi bậc

- Sau khi Khu DTSQ Kiên Giang được UNESCO công nhận vào năm 2006 thì đến đầu năm 2007, UBND tỉnh Kiên Giang đã thành lập Khu bảo tồn biển Phú Quốc nhằm bảo tồn, tổ chức khai thác giá trị tài nguyên và môi trường vùng biển này theo đúng quy định của pháp luật theo Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 03/01/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang.

- Để bảo tồn da dạng sinh học và HST khu vực đồng cỏ bàng xã Phú Mỹ, trong đó ưu tiên bảo tồn đồng cỏ bàng duy nhất còn sót lại ở ĐBSCL và duy trì số lượng sếu đầu đỏ về đây mỗi năm, chính quyền địa phương đã nỗ lực trong việc điều tra, rà soát đánh giá và lấy ý kiến của người dân địa phương và các ngành liên quan để hoàn chỉnh hồ sơ thành lập Khu bảo tồn loài – sinh cảnh Phú Mỹ và đã được UBND phê duyệt theo Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 05/01/2016 của UBND tỉnh Kiên Giang. Đến ngày 01/3/2016, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang đã ký ban hành Quyết định số 454/QĐ-UBND thành lập BQL Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Phú Mỹ. Đến ngày 15/7/2016 đã làm lễ công bố 2 quyết định trên tại xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành.

Ngoài ra Khu DTSQ Kiên Giang còn đạt được một số thành tựu được trong và ngoài nước ghi nhận:

- Được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) công nhận VQG U Minh Thượng là Vườn di sản Đông Nam Á (2013).

- Được Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận VQG U Minh Thượng là Khu Ramsar thế giới (2015).

-  Dự án “Khai thác bền vững đồng cỏ bàng kết hợp bảo tồn nghề thủ công địa phương tại xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang”, đã tạo được tiếng vang đáng kể trên thế giới thông qua các giải thưởng như:

+ Năm 2006, cơ quan UN-HABITAT của Liên Hiệp quốc, trao giải thưởng “Dubai International Award for Best Practices in Improving Living Environment” tại Dubai tiểu Vương quốc Ả Rập;

+ Năm 2008, nhận giải thưởng EQUATOR PRIZE của cơ quan UNDP Liên Hiệp quốc;

+ Năm 2009, Dự án Phú Mỹ là một trong ba dự án bảo tồn thiên nhiên kết hợp phát triển cộng đồng xuất sắc nhất thế giới và Tổ chức này đã mời đại diện dự án trình bày tại trụ sở Ngân hàng thế giới ở Washington DC, Hoa Kỳ;

+ Năm 2010, Dự án được cơ quan UNDP của Liên Hiệp quốc, mời đại diện cho tất cả các dự án bảo tồn thiên nhiên của khu vực xích đạo trên thế giới đến tham dự và trình bày tại buổi lễ phát động Năm Quốc tế Đa dạng sinh học 2010 tổ chức tại Bảo tàng thiên nhiên New York và tham gia họp báo quốc tế tại Trụ sở Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tại New York. Địa danh “Phú Mỹ, Kiên Lương, Kiên Giang” đã được chính thức trình bày đến các phương tiện thông tin đại chúng quốc tế tại Liên Hiệp Quốc.

+ Năm 2012, sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Phú Mỹ được giới thiệu tại Rio World Summit on Biodiversity ở Rio de Janero, Brazil.

b) Các bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình hoạt động

- Sau khi được công nhận Khu DTSQ Thế giới. BQL Khu DTSQ Kiên Giang được thành lập với sự tham gia của các thành viên là lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương trong tỉnh. Tiếp sau đó đã xây dựng và ban hành Quy chế hoạt động và quản lý Khu DTSQ Kiên Giang đã tạo điều kiện cho các hoạt động quản lý và điều phối trở nên thuận lợi.

- Hầu hết 7 HST đặc trưng Khu DTSQ Thế  giới Kiên Giang hiện nay đều nằm trong vùng lõi của các Khu bảo tồn trong tỉnh Kiên Giang, chỉ còn mỗi hệ sinh thái núi đá vôi Hòn Chông đang tiến hành xây dựng, hoàn thiện hồ sơ thành lập Khu Bảo tồn thiên nhiên núi đá vôi Kiên Lương. Do đó các hệ sinh thái trong Khu DTSQ Kiên Giang đang trong tình trạng được quản lý và bảo tồn tốt bởi các lực lượng chuyên môn và hệ thống pháp luật của Việt Nam về quản lý rừng đặc dụng.

7 HST Khu DTSQ Kiên Giang

- Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ KH&CN mới phục vụ công tác bảo tồn và phát triển KT-XH cho địa phương: Công tác nghiên cứu, giáo dục và hỗ trợ đã được quan tâm mạnh mẽ tại Khu DTSQ Kiên Giang trong thập kỷ qua. Khu DTSQ Kiên Giang là trọng điểm nghiên cứu khoa học của hầu hết các viện nghiên cứu, các trường đại học không chỉ của Việt Nam mà còn nhiều quốc gia trên thế giới. Từ sau khi Khu DTSQ Kiên Giang được công nhận (năm 2006) đến năm 2016 đã có hơn 367 đề tài, dự án và đề án về nghiên cứu khoa học đã được triển khai thực hiện trong Khu DTSQ Kiên Giang. Trong đó, có hơn 113 nghiên cứu được đăng trên các tập chí khoa học, có 60 bài được đăng trên tạp chí khoa học trong nước và 53 bài được đăng trên tạp chí quốc tế (xem Phụ lục). Từ những kết quả nghiên cứu được tiến hành trong Khu DTSQ Kiên Giang đã tham gia đào tạo được 13 tiến sĩ và hơn 65 thạc sĩ.  Đến nay, những Tiến sĩ, Thạc sĩ này, đóng góp rất nhiều vào sự nghiệp phát triển đa dạng sinh học, đặc biệt góp phần vào phát triển KT-XH tỉnh Kiên Giang

- Phát huy danh hiệu Khu dự trữ sinh quyển thế giới do tổ chức UNESCO công nhận. Sau 14 năm được công nhận được danh hiệu Khu DTSQ thế giới. Kiên Giang đã chứng tỏ giá trị to lớn cho việc bảo tồn và phát triển bền vững ở cấp độ địa phương. Những giá trị này không chỉ dừng lại ở sự gia tăng sức hấp dẫn du lịch từ sự nổi tiếng của danh hiệu và sự quảng bá quốc tế, mà còn là một động lực thúc đẩy các bên liên quan ở các cấp khác nhau và cộng đồng cùng nhau hợp tác vì mục tiêu chung và dài hạn là sự bền vững về sinh thái, sự phồn thịnh trong kinh tế, văn hóa và xã hội của địa phương. 

- Bên cạnh những kinh nghiệm thành công trong hoạt động quản lý. Còn một số khó khăn gặp phải trong quá trình hoạt động của BQL Khu DTSQ Kiên Giang

+ Thiếu cơ chế chia sẻ, báo cáo thông tin và kết quả nghiên cứu khoa học giữa các tổ chức nghiên cứu khoa học, nghiên cứu sinh trong nước và nước ngoài thực hiện trong Khu DTSQ Kiên Giang.

+ Các nguồn kinh phí hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước cho Khu DTSQ Kiên Giang còn hạn chế.

+ Nhận thức và hành động của người dân về công tác bảo tồn, bảo vệ đa dạng sinh học và HST chưa cao.

+ Công tác điều tra, quản lý, bảo vệ ĐDSH Khu DTSQ Kiên Giang chưa được đầu tư xứng tầm. Đầu tư bảo tồn, khôi phục, làm giàu rừng và các loài quý hiếm còn hạn chế, rất cần sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ từ các bộ, ngành Trung ương, địa phương và quốc tế.

+ Hạn chế về nguồn nhân lực, trang thiết bị khoa học kỹ thuật để nghiên cứu, ghi nhận các loài mới, bảo tồn các nguồn gen quý (bảo tồn ngoại vi, gây nuôi).

+ Sinh kế cộng đồng các xã vùng đệm, vùng chuyển tiếp còn nhiều khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo cao hơn nhiều so với mức trung bình của tỉnh. Các hỗ trợ cho cộng đồng địa phương để chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, đào tạo nghề, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đánh bắt – nuôi trồng thủy sản, khuyến khích phát triển các nghề dịch vụ (nhất là du lịch sinh thái cộng đồng, nông nghiệp sinh thái) là hết sức cần thiết.

+ Những thách thức về quản lý môi trường biển, tránh ô nhiễm ngày càng gia tăng từ sự phát triển nhanh của ngành du lịch hiện nay (nước thải, rác thải).

3. Kết luận và kiến nghị

  • Kết luận

- Khu DTSQ Kiên Giang sẽ luôn là một mô hình kiểu mẫu trong Mạng lưới các Khu DTSQ về một Khu DTSQ rộng lớn, đa chức năng bao gồm nhiều thành phần, chứa đựng hầu hết các hệ sinh thái trên đất liền và biển, đa dạng bậc nhất về đa dạng sinh học ở Việt Nam.

- Để bảo vệ giá trị nổi bật và tính toàn vẹn của Khu DTSQ, trong 5 – 10 năm tới, công tác quản lý Khu DTSQ cần tập trung vào các vấn đề như: Thực hiện tốt việc thành lập các Khu bảo tồn theo Quyết định số 45/QĐ-TTg 08/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Bảo tồn nguyên vẹn giá trị cảnh quan thiên nhiên, giá trị các hệ sinh thái nhiệt đới, các loài động, thực vật quí hiếm, đặc hữu bản địa, khu vực có giá trị toàn cầu;  Quản lý giám sát chặt chẽ những mối nguy ảnh hưởng tới môi trường, đa dạng sinh học, hệ sinh thái; Tăng cường nghiên cứu làm rõ các giá trị của Khu DTSQ;  Nâng cao năng lực quản lý cho lãnh đạo và cán bộ chuyên trách Khu DTSQ;  Tiếp tục tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng, thu hút, khuyến khích họ cùng tham gia vào hoạt động của Khu DTSQ; Đẩy mạnh hỗ trợ phát triển cộng đồng thông qua dự án, đề tài, mô hình về phát triển sinh kế theo hướng bền vững, thân thiện môi trường; Tăng cường sự phối hợp giữa các bên liên quan trong Khu DTSQ Kiên Giang; Tăng cường hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững; Hoàn thiện Kế hoạch hành động của Khu DTSQ Kiên Giang; Xây dựng bộ tiêu chí giám sát đánh giá hiệu quả hoạt động của Khu DTSQ Kiên Giang.

  • Kiến nghị

- Cần đưa hệ thống các BQL Khu DTSQ của Việt Nam vào hệ thống quản lý nhà nước từ Trung ương tới địa phương.

- Cần có những quy định và hướng dẫn chung đối với quản lý Khu DTSQ thế giới Việt Nam.

- Tăng cường hỗ trợ về nhân lực và tài chính để các BQL Khu DTSQ Thế giới Việt Nam có thể đảm bảo thực hiện đầy đủ đúng 03 chức năng (bảo tồn, phát triển và hỗ trợ).

ThS. Lý Minh Tài và TS. Nguyễn Xuân Niệm