Cổng thông tin điện tử Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Kiên Giang

Khoa học

Xem với cỡ chữAA

Phèn, mặn là vấn đề khó khăn lớn trong sản xuất lúa

(14:20 | 04/09/2020)

Trong những năm qua, do tình hình biến đổi khí hậu ngày càng gây gắt, xâm nhập mặn ngày càng lấn sâu vào đất liền, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất của người dân, đặc biệt là trong sản xuất lúa.

Trên cơ sở đó, năm 2018, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tỉnh Kiên Giang đã hỗ trợ huyện Giang Thành triển khai đề tài “Phân lập và tuyển chọn nấm rễ và vi khuẩn nội sinh giúp tăng cường khả năng chống chịu phèn, mặn ở cây lúa trồng tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang” do TS. Nguyễn Văn Lẹ làm chủ nhiệm. Mục tiêu của đề tài: (i) Khảo sát được khả năng chịu phèn, mặn của các giống lúa cao sản được trồng ở Kiên Giang bằng kỹ thuật sinh học phân tử; (ii) Thanh lọc được các giống lúa có khả năng chịu phèn, mặn tốt trong điều kiện nhà lưới từ các giống lúa thương phẩm có gen chịu phèn, mặn; (iii) Phân lập được một số chủng vi khuẩn nội sinh cây lúa góp phần tăng năng suất lúa chịu phèn, mặn ở Kiên Giang; (iv) Tuyển chọn được một số loài nấm rễ tăng cường khả năng chịu phèn, mặn ở lúa nhằm thích nghi tốt trên nền đất nhiễm phèn, mặn; (v) Triển khai mô hình thí điểm và xây dựng quy trình kỹ thuật phù hợp điều kiện huyện Giang Thành.

Chiều ngày 26/8/2020, Ủy ban nhân dân huyện Giang Thành đã tổ chức họp Hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu do ông Bùi Văn Mến - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Giang Thành làm Chủ tịch Hội đồng.

Toàn cảnh họp Hội đồng

Hội đồng đã tiến hành đánh giá kết quả đề tài đạt yêu cầu, cụ thể: Kết quả đề tài triển khai cơ bản bám sát mục tiêu, nội dung theo đề cương được duyệt, cụ thể: (i) Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát, thu thập được 14 giống lúa trồng phổ biến tại huyện Giang Thành có khả năng chống chịu phèn, mặn; (ii) Thông qua thí nghiệm trong môi trường Yoshida trong nhà lưới đã chọn được 06 giống lúa có khả năng chịu phèn, mặn, tiến hành ly trích DNA bằng kỹ thuật sinh học phân tử, chạy PCR với marker RM206, RM252 xác định được 02 giống lúa mang dấu chỉ thị phân tử liên quan tính kháng phèn, mặn là OM 5451 và ĐT8; (iii) Thu mẫu thân, rễ, lá lúa để phân lập và xác định được 96 dòng vi khuẩn nội sinh bằng môi trường bán đặc NFb và Baz, xác định khả năng tổng hợp IAA bằng phương pháp Salkowski (Glickmann và Dessaux, 1995) và định lượng hàm lượng đạm (NH4+) bằng phương pháp Indophenol blue (Alexander, 1965), phát hiện có 03 dòng có khả năng tổng hợp đạm tự do và sinh IAA trong điều kiện độ mặn 6‰ và nồng độ phèn 250ppm; (iv) Thu thập mẫu đất vùng rễ lúa để phân lập nấm rễ, sử dụng kính hiển vi soi nổi để quan sát hình thái và phân loại nấm rễ, tiến hành phân lập và định danh bào tử nấm rễ dựa trên phương pháp rây ẩm cải tiến và mô tả hình thái bào tử, xác định được có 08 chủng nấm rễ; Xác định tỷ lệ xâm nhiễm của nấm rễ nội cộng sinh là khá cao (từ 66%-100%) trong môi trường Yoshida có bổ sung NaCl 6‰ và FeCl2 250ppm bằng cách nhuộm các mẫu nấm rễ với Tryphan blue 0,05% kết hợp công nghệ Microwave; (v) Tiến hành sản xuất chế phẩm sinh học và triển khai mô hình thử nghiệm, kết quả đã giúp tăng năng suất so với ruộng đối chứng gần 1 tấn/ha. Sản phẩm chế phẩm sinh học từ nấm rễ (10 lít) và vi khuẩn nội sinh (10 kg) tạo ra đã bàn giao cho ngành chuyên môn, nông dân địa phương tiếp tục ứng dụng để đủ cơ sở khoa học hoàn thiện được quy trình kỹ thuật.

Ngoài ra, báo cáo cần hoàn thiện thêm một số vấn đề như: Cập nhật lại số liệu và bổ sung hạn chế, khó khăn trong sản xuất lúa của địa phương tại phần tổng quan; Trình bày rõ hơn về phương pháp triển khai nội dung, công việc của đề tài; Kết luận bám sát mục tiêu đặt ra và nội dung triển khai thực tế; Chỉnh sửa lỗi đánh máy, hình thức trình bày;…

Qua đó, ông Bùi Văn Mến - Chủ tịch Hội đồng kết luận: Kết quả đề tài đã đạt được khá tốt theo mục tiêu đặt ra, giúp địa phương giải quyết được hạn chế, khó khăn thực tiễn trong sản xuất lúa. Đề nghị tổ chức chủ trì, chủ nhiệm chỉnh sửa, hoàn thiện hồ sơ theo góp ý của Hội đồng và giao nộp về Sở Khoa học và Công nghệ theo quy định. Giao Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Giang Thành phối hợp cùng nhóm nghiên cứu bàn giao sản phẩm cho dân ứng dụng và tiếp tục theo dõi kết quả để đề xuất lãnh đạo huyện triển khai ứng dụng kết quả đề tài này./.

Nguyễn Thanh Sơn – Phòng Khoa học